Author - Thu Nguyen

Thất bại trong chuyển đổi số

Lo doanh nghiệp nhỏ thất bại trong chuyển đổi số

Đang có những lo lắng về chuyển đổi số đi cùng với thích ứng xu hướng thương mại điện tử của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có thể gặp thất bại và chưa thấy dấu hiệu cải thiện.

 

Báo cáo chỉ số thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam 2020 mới công bố có một số điểm đáng lưu tâm. Đó là tỷ lệ doanh nghiệp (DN) Việt gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ năng về TMĐT và công nghệ thông tin vẫn chỉ dao động trên dưới 30%.

Chưa thấy dấu hiệu cải thiện

Trong số đó, kỹ năng quản trị website và sàn giao dịch TMĐT đang được DN quan tâm nhiều nhất và cũng gặp khó khăn lớn nhất trong quá trình tuyển dụng (49% DN cho biết gặp khó khăn về việc tuyển dụng nhân sự có kỹ năng này).

Việc chuyển đổi số với DV Việt Nam còn lắm gian nan

Đối với chi phí mua sắm, trang bị và ứng dụng công nghệ thông tin và TMĐT, kết quả khảo sát cho thấy đa số DN tới thời điểm hiện tại vẫn tập trung vào việc đầu tư hạ tầng phần cứng, tỷ lệ này dao động trên dưới 40%.

Còn với việc sử dụng các phần mềm quản lý trong giao dịch TMĐT giữa DN với DN (B2B), xét về quy mô DN thì nhóm DN lớn sử dụng các phần mềm quản lý nhiều hơn so với nhóm DN vừa và nhỏ. Thậm chí là có sự chênh lệch rất lớn, đơn cử như ở phần mềm quản trị nguồn lực DN (ERP), DN lớn đã sử dụng tới 40%, trong khi các DN vừa và nhỏ mới chỉ có khoảng 14%.

Đối với tỷ lệ đầu tư, xây dựng và vận hành website hoặc ứng dụng di động, thông qua kết quả khảo sát, xét về quy mô DN thì nhóm DN lớn có tỷ trọng đầu tư vào việc xây dựng và vận hành website hoặc ứng dụng di động đa số dao động từ 20 – 50% trong tổng số vốn đầu tư cho TMĐT (46% DN lớn đầu tư từ 20% – 50%). Còn nhóm các DN vừa và nhỏ đa số đều đầu tư ở mức dưới 20% (63% DN vừa và nhỏ đầu tư dưới 20%).

Nhìn từ những con số nêu trên, giới chuyên gia tỏ ra khá lo lắng cho việc chuyển đổi số ở các DN vừa và nhỏ hiện nay cũng như việc cạnh tranh trong xu hướng phát triển TMĐT. 

Thậm chí, nhiều ý kiến lo lắng rằng chuyển đổi số đi cùng với thích ứng xu hướng TMĐT đúng nghĩa là một hành trình gian nan cho bất kỳ DN nào ở Việt Nam. Đặc biệt là với chuyển đổi số, tỷ lệ thành công thấp trong khi tỷ lệ thất bại dao động từ 60 – 80% và tình hình này chưa thấy dấu hiệu cải thiện.

Dựa trên nghiên cứu về nhiều DN hoạt động tại Việt Nam trong 2 năm qua, nhóm nghiên cứu của Ts. Nguyễn Quang Trung (Đại học RMIT) – Nguyễn Tuấn Hồng Phúc (Thành viên điều hành, tư vấn chiến lược khách hàng, vận hành và công nghệ số tại KPMG Việt Nam) đã chỉ ra 5 nhóm lý do phổ biến dẫn đến những thất bại trong chuyển đổi số ở các DN Việt.

Đó là: Thiếu lãnh đạo có khả năng thúc đẩy đổi mới, thiếu hoặc yếu về một hoặc nhiều năng lực động (dynamic capabilities) của tổ chức, chưa xây dựng được nền tảng văn hóa DN phù hợp, hiểu sai về năng lực số, sai lầm trong chiến lược chuyển đổi số.

Lộ những sai lầm

Theo nhóm nghiên cứu này, có nhiều DN “khoán trắng” cho bộ phận công nghệ thông tin (IT) để tìm hiểu và thực hiện các thay đổi có tính ứng dụng công nghệ. Lãnh đạo các DN này xem đây là trách nhiệm của bộ phận IT. 

Ở chiều ngược lại, nhiều giám đốc bộ phận IT cũng nghĩ bộ phận mình có thể tạo ra chuyển đổi cho DN mà không cần quá nhiều can thiệp của lãnh đạo. Đây là một trong những lý do chính dẫn đến việc đại đa số các dự án chuyển đổi số trong DN Việt thất bại.    

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ rõ những tiến bộ trong công nghệ, năng lực động với khả năng tích hợp đã làm nên nhiều kỳ tích cho nhiều DN trên thế giới và họ nhanh chóng trở thành các “ông lớn” trên thị trường chứng khoán (Apple, Amazon, Microsoft, Alibaba…). Cùng với đó là nhiều tên tuổi phải ngậm ngùi tụt hậu, xa dần trong cuộc đua thậm chí phá sản (Sears, Kodak, Nokia, Yahoo, Blockbuster…). 

“Những DN thành công là những DN mạnh về khả năng trong năng lực động nêu trên. Trong khi đó, các DN thất bại thì thường là yếu hoặc thiếu các năng lực động trên, bên cạnh các yếu tố khác”, Trung tâm quản trị của Đại học RMIT và KPMG Việt Nam nhận định.

Giới chuyên gia lý giải vì nguồn lực hạn chế nên khi hướng tới chuyển đổi số và thích ứng với trào lưu TMĐT, nhiều DN vừa và nhỏ rất sợ thất bại, thậm chí trừng phạt sai lầm. Thêm vào đó, văn hóa đổ lỗi của lãnh đạo và thói quen ngại thay đổi, ngại bước ra khỏi vùng an toàn của nhân viên ở nhiều DN đã khiến cho việc triển khai chiến lược chuyển đổi số trở nên chông chênh và gian nan.

Trong quá trình phỏng vấn DN, các chuyên gia của RMIT và KPMG đã nhận thấy nhiều DN Việt ngộ nhận hoặc hiểu chưa đầy đủ về năng lực số. Những DN này chỉ chú trọng phần cứng, vì vậy họ lao vào các dự án đầu tư công nghệ tốn kém, trong khi các giải pháp đưa ra không đáp ứng được kỳ vọng của khách hàng và nhân viên vì sự yếu kém ở những năng lực số khác.

Về sai lầm trong chiến lược chuyển đổi số của DN Việt, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ, nhóm nghiên cứu của Ts. Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Tuấn Hồng Phúc cho rằng các DN thường quá thiên về công nghệ mà quên rằng con người mới là chủ thể chính trong quá trình này (đội ngũ nhân viên, cổ đông, khách hàng và nhà cung cấp).      

Thậm chí, nhiều DN cũng quá ảo tưởng về khả năng “đại thành công” của chuyển đổi số và đưa ra những mục tiêu không tưởng trong khoảng thời gian thực thi ngắn.

Nguồn: Thế Vinh

 


 

Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai thương mại điện tử e-commerce cũng như phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Hậu Covid-19: Cơ hội thực hiện chuyển đổi số để bứt phá

Hậu Covid-19: Cơ hội thực hiện chuyển đổi số để bứt phá

Cú sốc kinh tế Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp “lao đao” vì doanh số giảm mạnh đột ngột nhưng cũng là thời điểm để rà soát, nhìn nhận và cơ cấu bộ máy để giải quyết các vấn đề kìm hãm sự phát triển.
Đây là cơ hội tốt nhất để các công ty chuyển đổi số. Nếu bỏ qua cơ hội này – sẽ rất khó để chuyển đổi số thành công.

 

Covid-19 bùng phát, doanh nghiệp truyền thống “vỡ trận”

Dịch covid–19 khiến nền kinh tế trải qua một phen chao đảo. Nhưng đây đồng thời cũng là cơ hội để chúng ta đánh giá lại phương thức quản trị doanh nghiệp. Các doanh nghiệp truyền thống lấy con người làm trung tâm với cách làm thủ công, giấy tờ nhanh chóng bị “vỡ trận” trước lệnh cách ly toàn xã hội. Nhân viên khóc ròng, lãnh đạo mệt mỏi vì không thể tổ chức hoạt động bình thường. Công việc chồng chéo, trì hoãn, doanh thu giảm, chi phí tăng… hàng loạt các vấn đề phát sinh gây áp lực cho toàn doanh nghiệp. Nếu tình trạng đó kéo dài quá lâu việc doanh nghiệp bị khai tử khỏi bản đồ kinh doanh là điều tất yếu.

Những tình huống tréo ngoe xảy ra cho thấy, quản trị truyền thống đang dần bộc lộ những “tử huyệt” chết người và dần “chệch nhịp” khi xã hội bước vào kỷ nguyên số. Nếu tiếp tục trung thành với phương pháp cũ, doanh nghiệp chắc chắn không thể đi xa.

 

Sức mạnh công nghệ thông tin tạo đà để doanh nghiệp phát triển

Chuyển đổi số đặt ra thách thức nhưng cũng là cuộc chơi hấp dẫn mang tới cơ hội đổi vận cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Công nghệ 4.0 sẽ thay đổi cách quản trị của lãnh đạo, cách làm việc của nhân viên, và cách chúng ta làm việc với số liệu. Chúng mang đến các giải pháp tốt dành cho các chức năng kinh doanh cốt lõi như tài chính, nhân sự, kinh doanh, marketing và tự động hóa mọi quy trình làm việc. Cùng với đó, lãnh đạo đưa ra các quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo được tổng hợp tự động theo thời gian thực, phát hiện ngay những bất thường để ra quyết định xử lý kịp thời. Thực tế chứng minh, nhiều doanh nghiệp SMEs đã chuyển đổi số thành công và phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc, thậm chí năng lực cạnh tranh được xếp ngang ngửa với các ông lớn trên thị trường.

Nếu không muốn đi thụt lùi so với các doanh nghiệp cùng ngành, dù lớn, dù nhỏ doanh nghiệp đều không thể nói “không” với chuyển đổi số.

 

Xu thế sử dụng công nghệ thông tin giúp tiết kiệm chi phí

Tự động hóa quy trình và tối ưu hóa hiệu suất làm việc bằng công nghệ, phần mềm quản lý là sự lựa chọn của doanh nghiệp hiện đại.

Tinh giản bộ máy, tự động hóa quy trình làm việc, tăng cường kết nối, trao đổi thông tin nhanh giữa các bộ phận, bao quát, cập nhật kịp thời từng hoạt động doanh nghiệp là nhiệm vụ cấp bách của lãnh đạo và là cốt lõi gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Nắm bắt được nhu cầu đó, phần mềm quản trị doanh nghiệp BizMax.vn được xây dựng để giảm tối đa sự phụ thuộc vào nhân tố con người, thay đổi cách thức quản trị để doanh nghiệp phát triển bền vững.

Ông Đào Đức Phương – GĐ Công ty Cổ phần Techlink chia sẻ vai trò của việc áp dụng công nghệ: “Thay đổi quy trình làm việc từ giấy tờ sang phần mềm, tự động hoá hầu hết công việc, cập nhật báo cáo tự động. Từ ngày sử dụng BizMax, Techlink đã cắt giảm được cả trăm triệu đồng chi phí nhờ kiểm soát tốt chỉ số tài chính, phát hiện chi phí bất thường và tối ưu các nguồn lực, tập trung vào các hoạt động quan trọng để phát triển doanh nghiệp”.

Sở hữu nhiều tính năng thông minh nhưng BizMax khá đơn giản, dễ sử dụng, Chị Giang – CEO TGIMEX cho hay: “Ban đầu chị khá lăn tăn vì bản thân chị cũng lúng túng với các phần mềm hiện nay và lo lắng nhân viên không ủng hộ. Tuy nhiên, chỉ sau một tuần triển khai thấy ai cũng hào hứng vì đơn giản và thuận tiện không ngờ”.

Thực tế, không chỉ Techlink, TGIMEX mà hàng ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ khác tại Việt Nam đều đang sử dụng phần mềm quản trị doanh nghiệp BizMax vì những tính năng thông minh như: Tự động hóa quy trình, liên kết dữ liệu phục vụ của đầy đủ các phòng ban: Kinh doanh – Kế toán – Kho – Tài chính – Marketing…

Thay đổi phương thức quản lý đã quen thuộc luôn là thách thức lớn đối với tất cả các doanh nghiệp. Điều này không chỉ đơn thuần là nguồn lực đầu tư vào công nghệ thông tin mà là cuộc cải tổ toàn diện, liên tục và triệt để. Để thực hiện chuyển đổi số thành công cần sự quyết tâm rất lớn từ người đứng đầu doanh nghiệp. Thời điểm này, khi mọi hoạt động chậm lại thì đây lại là thời cơ vàng để ra quyết định thay đổi nhằm tận dụng sức mạnh công nghệ để bứt phá. Đăng ký sử dụng phần mềm quản lý doanh nghiêp Bizmax.vn là một bước quan trọng trên con đường đó.

Nguồn: Ánh Dương 

 


 

Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương.Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Trong đó có việc xử lý khó khăn hậu Covid-19 và nắm bắt cơ hội thực hiện rút ngắn thời gian chuyển đổi số. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Gỡ khó cho ngành Logistics Bình Dương - Hạn chế

Gỡ khó cho ngành Logistics Bình Dương

Trong các hoạt động kinh tế của tỉnh Bình Dương hiện nay, ngành logistics (bao gồm kho bãi, vận chuyển, phân phối sản phẩm…) được xem là khâu yếu nhất, còn nhiều hạn chế chưa được khơi thông để phát triển. Cần có những giải pháp gỡ khó của địa phương, cùng sự đầu tư bài bản từ doanh nghiệp để chuyên nghiệp hóa ngành này, thúc đẩy phát triển kinh tế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một góc kho bãi tại Bình Dương ( Nguồn: Internet)

Bình Dương có vị trí tiếp giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, TPHCM, Tây Ninh, hiện đang có 29 khu công nghiệp lớn, với gần 35.000 doanh nghiệp trong nước và khoảng 3.500 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng bài toán về hạ tầng giao thông, giải quyết tình trạng tắc đường, kẹt xe… vẫn chưa được xử lý hiệu quả. Điều này khiến ngành logistics nhiều năm qua vẫn loay hoay cung cấp các dịch vụ giản đơn, có giá trị thấp, như: khai báo hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu, cho thuê kho hàng. Trong khi đó, các dịch vụ có giá trị lớn như chuỗi cung ứng, xử lý đơn hàng, phân phối đơn hàng chiếm tỷ trọng rất thấp…

Ngành logistics Bình Dương hiện cũng chỉ tập trung vào các lĩnh vực dệt may, giày da, xuất nhập khẩu, linh kiện điện máy, chế biến gỗ. Trong chuỗi cung ứng hàng hóa ở đô thị công nghiệp như tỉnh Bình Dương, hoạt động vận tải có vai trò đặc biệt quan trọng nhưng cũng chính là điểm nghẽn chưa được tháo gỡ, bởi hầu hết các tuyến đường huyết mạch của tỉnh này là quốc lộ 13, đường Mỹ Phước – Tân Vạn, ĐT 743, ĐT 741… thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông, nhất là vào giờ cao điểm.

Các doanh nghiệp từng phản ánh, hàng hóa tại các khu công nghiệp của tỉnh đi các cảng biển của TPHCM có cự ly chỉ khoảng 30km nhưng thời gian chuyển hàng đến cảng và đưa container rỗng về lại công ty mất khoảng 10 tiếng, làm đội giá thành sản phẩm, giảm sút sức cạnh tranh, trong đó, chi phí logistics của hàng hóa xuất khẩu hiện đang chiếm khoảng 30%-40% giá thành sản phẩm.

Bình Dương cũng là tỉnh có số lượng kho bãi, dịch vụ vận chuyển lớn, chiếm khoảng 51% tổng nguồn cung kho bãi khu vực phía Nam và đang có sự hiện diện của hầu hết các công ty logistics lớn trên thế giới. Thế nhưng, phần lớn các doanh nghiệp logistics trong nước có trụ sở tại địa phương này lại quy mô nhỏ, thiếu kinh nghiệm và vốn, hạ tầng phục vụ cho hoạt động vận chuyển, bốc dỡ còn nhiều hạn chế.

Ông Điền Quang Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ tỉnh Bình Dương, cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam năng động, thích ứng nhanh nhưng hạ tầng quá tải, lạc hậu đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Do vậy, cần làm những tuyến đường lớn, có quỹ đất dự phòng để mở rộng đường khi có nhu cầu, tránh tình trạng loay hoay đền bù, giải phóng mặt bằng.

Hiện tỉnh Bình Dương đang hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động các cảng sông như: Cảng An Sơn, sẽ trở thành trung tâm logistics ICD; Cảng dịch vụ container – kho chứa hàng hóa của doanh nghiệp tư nhân Nguyên Ngọc, Cảng Thái Hòa (phường Thái Hòa, TX Tân Uyên), nằm trên sông Đồng Nai, được quy hoạch diện tích khoảng 300ha, do Tổng công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp – TNHH MTV (Becamex IDC) làm chủ đầu tư, với vốn 6.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tỉnh này cũng đang xây dựng hoàn thiện hệ thống giao thông đường bộ; nạo vét khai thác hệ thống đường sông, tiến tới xây dựng tuyến đường sắt đến cảng Cái Mép – Thị Vải; kêu gọi các nhà đầu tư vào các cảng cạn, cảng sông…

Ở lĩnh vực thông quan hàng hóa, từ năm 2014, Hải quan Bình Dương đã triển khai máy soi container di động tại địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung trên quốc lộ 13, giúp rút ngắn thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa chỉ còn 5 – 7 phút, bảo đảm an toàn và vệ sinh cho hàng hóa, giảm chi phí kiểm tra. Cục Hải quan Bình Dương cũng đã áp dụng phần mềm quản lý kho CFS và phần mềm quản lý kho ngoại quan, giúp doanh nghiệp xuất, nhập khẩu hàng hóa và quản lý kho giảm thời gian làm thủ tục, giảm giấy tờ khai báo. Từ năm 2016, đơn vị này đã triển khai đồng loạt tại các chi cục làm thủ tục 46 dịch vụ công trực tuyến qua website của cục, trong đó có 37 dịch vụ công do chính Hải quan Bình Dương xây dựng, nhằm giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí đi lại, minh bạch thông tin giữa công chức hải quan và doanh nghiệp…

Nguồn: Xuân Trung


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Tại Viêt Nam, chúng tôi đã hỗ trợ , tư vấn  phần mềm quản lý doanh nghiệp cho các doanh nghiệp tại các khu vực như Bình Dương, Hải Phòng,…có  giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Tháo gỡ điểm nghẽn trong thanh toán không dùng tiền mặt

Tháo gỡ điểm nghẽn trong thanh toán không dùng tiền mặt

(BĐT) – Đã có những chuyển động tích cực trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, để quá trình này tiến nhanh hơn nữa, cần sự thúc đẩy và đồng hành từ tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, người dân.

Mới đây, thông tin 22 tấn trái vải được bán qua ví điện tử trong 2 ngày triển khai gây ngạc nhiên với nhiều người tiêu dùng và cơ quan quản lý. Ông Nguyễn Anh Đức, Tổng giám đốc Saigon Co.op – doanh nghiệp bán lẻ kết hợp với ví điện tử để bán loại nông sản này cho biết, chương trình thử nghiệm này là ý tưởng táo bạo song đã được thị trường đón nhận tích cực, mong là sẽ tiếp tục có thêm nhiều sự kết hợp như vậy để tạo các bước tiến nhảy vọt trong thanh toán không dùng tiền mặt trong thời gian tới.

Từ góc độ đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán trên ví điện tử, ông Nguyễn Bá Diệp, Phó Chủ tịch, đồng sáng lập ví MoMo cho biết, doanh nghiệp này đã từng gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian dài nhưng mọi thứ đang thay đổi mạnh trong 3 năm trở lại đây. Đặc biệt, MoMo đã phát triển hệ sinh thái ngày càng phong phú, với đa dạng đối tác, từ đó mang lại các giá trị tốt hơn cho khách hàng.

Còn theo ông Nguyễn Ngọc Dũng – Phó Chủ tịch phụ trách phía Nam Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), thói quen thanh toán, mua hàng bằng tiền mặt bị dịch Covid-19 làm thay đổi. Thống kê 4 sàn thương mại điện tử lớn ở Việt Nam cho thấy, lượng truy cập mua sắm trên sàn thương mại điện tử kể từ khi dịch Covid -19 diễn ra đã tăng hơn 150% so với cùng kì năm 2019.

Mỗi ngày có khoảng 4 triệu lượt truy cập các sàn thương mại điện tử mua sắm. Đồng thời, lượng tìm kiếm ứng dụng thanh toán tăng vọt gấp đôi đầu mùa dịch. Với thị trường Internet giá trị trên 20 tỉ USD, ông Dũng cho rằng trong thời gian sắp tới, nếu khuyến khích thanh toán không tiền mặt thì thị trường sẽ càng minh bạch, từ đó tạo cơ sở dữ liệu để cơ quan quản lý có thể kiểm soát các giao dịch, quản lý thuế tốt hơn.

Từ phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, thanh toán không dùng tiền mặt đang tăng trưởng mạnh. Đáng chú ý, thanh toán qua thẻ, Internet và điện thoại di động trong 4 tháng năm 2020 đều tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, thanh toán nội địa qua thẻ ngân hàng tăng 26,2% về số lượng và 15,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019; thanh toán qua kênh Internet tăng 3,2% về số lượng và 45,7% giá trị; thanh toán qua kênh điện thoại di động tăng 198,8% về số lượng và 21,9% về giá trị.

Ông Nguyễn Kim Anh, Phó Thống đốc NHNN cho rằng, cơ sở pháp lý về thanh toán không dùng tiền mặt được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện tạo nền tảng cho hoạt động thanh toán nói chung, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ mới trong thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái thanh toán điện tử đã được hình thành với kết nối tích hợp các ngành, lĩnh vực khác cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến đối với hóa đơn điện, nước, viễn thông, mua sắm trực tuyến tại các trang thương mại điện tử, nộp thuế điện tử và một số khoản phí, lệ phí khi thực hiện một số dịch vụ hành chính công…

Dù vậy, ông Phạm Tiến Dũng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán thuộc NHNN, cho rằng, thực tế thời gian qua vẫn còn một số điểm nghẽn khiến quá trình này chưa thể diễn ra nhanh chóng. Trong đó, điểm nghẽn dễ nhận thấy nhất là các bộ, ngành chưa có cơ sở dữ liệu tập trung để ngân hàng có thể kết nối vào làm dịch vụ thanh toán, vì nếu không có cơ sở dữ liệu tập trung thì không thể nói đến thanh toán không dùng tiền mặt.

Điểm nghẽn thứ 2, theo ông Dũng, là nhiều đơn vị cung cấp dịch vụ chưa sẵn sàng. “Thực tế triển khai cho thấy 6 sở sử dụng 6 phần mềm khác nhau, không theo chuẩn chung nào nên rất mất công. Do vậy cần sự vào cuộc của các sở, ban ngành và các doanh nghiệp”, ông Dũng nói.

Để góp phần đẩy mạnh hoạt động này, NHNN cho biết, sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

Trước hết là trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định số 101 về thanh toán không dùng tiền mặt, Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, ban hành thông tư hướng dẫn việc mở tài khoản thanh toán với định danh, xác thực khách hành bằng phương thức điện tử (eKYC)…

Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp hạ tầng thanh toán quốc gia, hạ tầng hệ thống thanh toán bù trừ tự động phục vụ các giao dịch bán lẻ theo hướng cung ứng dịch vụ thanh toán online, xử lý tức thời, dịch vụ 24/7 cho mọi đối tượng và người dân.

Nguồn: Xuân Yến


Data V Tech chuyên triển khai xây dựng các sàn thương mại điện tử (e-commerce) trên Magento và WordPress. Xin liên hệ để được tư vấn trực tiếp.

Bệ đỡ mới thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp

‘Bệ đỡ’ cho doanh nghiệp thúc đẩy tăng trưởng mới

Bước qua thời điểm giãn cách xã hội và hành vi, nhu cầu của người tiêu dùng cũng hoàn toàn chuyển hướng tập trung vào những sản phẩm thiết yếu, trong các tháng còn lại của năm 2020, nhiều doanh nghiệp xác định là giai đoạn cần đột phá trong tái tạo nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng mới.

Cần chính sách cho ngành

Trong thời gian qua, Nhà nước đang có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sau dịch bệnh. Hầu hết doanh nghiệp đều đánh giá những chính sách này rất thiết thực nhưng họ cũng cho rằng, khi triển khai vào từng ngành nghề, lĩnh vực và doanh nghiệp thì chưa kịp thời như kỳ vọng, cũng như sự quyết liệt của Chính phủ.

Cụ thể, theo dự thảo Nghị quyết về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác, nhà nước sẽ giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không quá 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội năm 2020 không quá 100 người. Tuy mức hỗ trợ dự kiến cao như vậy, nhưng thực tế doanh nghiệp khó tiếp cận và hưởng lợi từ chính sách này do quy mô sản xuất kinh doanh, thủ tục hành chính…

Riêng về thuế thu nhập doanh nghiệp, mức thuế 20% hiện hành vẫn còn ở mức cao so với mặt bằng chung của các quốc gia và chưa khuyến khích doanh nghiệp. Trong khi đó, từ đầu năm đến nay tình hình gián đoạn mọi hoạt động kinh tế, xã hội đã gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp và nhiều đơn vị sản xuất kinh phải đóng cửa, phá sản… Ngược lại, số doanh nghiệp dự kiến hoạt động có lãi trong năm nay rất ít.

Một số doanh nghiệp cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư – kinh doanh minh bạch, thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động là giải pháp hiệu quả để doanh nghiệp tăng tốc sản xuất kinh doanh. Khi cộng đồng doanh nghiệp ổn định và duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ nhanh chóng thu về lợi nhuận, không chỉ hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh cho biết, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp đã kiến nghị Chính phủ xem xét giảm thuế giá trị gia tăng ít nhất 1 năm, nhất là đối với sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp nói riêng và những ngành nghề, lĩnh vực cụ thể khác. Nếu thuế giá trị gia tăng giảm từ 10% xuống còn từ 3 – 5% thì giá thành và giá bán sản phẩm sẽ cạnh tranh hơn, tạo điều kiện khuyến khích người tiêu dùng mua sắm và là giải pháp thiết thực để kích cầu, tăng thị phần cho sản phẩm nội địa.

Theo ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, từ giờ đến cuối năm là thời cơ vàng để tăng tốc sản xuất kinh doanh, do đó doanh nghiệp cần chuẩn bị tốt nguồn nguyên liệu và kết nối hệ thống đại lý bán hàng để nắm bắt tình hình, chuẩn bị các kịch bản sản xuất kinh doanh trong những tháng cuối năm 2020.

Đơn cử, tại Xuân Nguyên đang chủ động tái cấu trúc lại doanh nghiệp, khắc phục những tồn tại, tập trung tạo thuận lợi cho người tiêu dùng bằng cách đẩy mạnh kênh phân phối, bán hàng như thương mại điện tử. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng kiểm soát chặt từ vùng nguyên liệu, quy trình xử lý để bảo đảm sản phẩm chất lượng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

Phục hồi nhu cầu thị trường

Ghi nhận trên thị trường cho thấy, hơn 48 năm đồng hành cùng người tiêu dùng Việt, từ sản xuất sản phẩm thông thường sang sản phẩm thông minh, Công ty cổ phẩn Bóng đèn Điện Quang đã phát triển trên nền tảng sản xuất sản phẩm thuần túy sang công nghệ cung cấp giải pháp tổng thể trong lĩnh vực chiếu sáng và thiết bị điện. Cùng với đó, Điện Quang đã mở rộng sản xuất kinh doanh là doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về giải pháp chiếu sáng tổng thể với hàng ngàn sản phẩm chiếu sáng và thiết bị điện thông minh.

Ông Hồ Quỳnh Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc công ty cổ phẩn Bóng đèn Điện Quang cho biết, Điện Quang đã và đang nỗ lực thực hiện chiến lược chuyển đổi với định hướng “Trở thành tập đoàn đa quốc gia về chiếu sáng và công nghệ”.

Đặc biệt, năm 2020, Điện Quang chuẩn bị đưa ra thị trường bộ giải pháp công nghệ 4.0 phiên bản mới V2 DQSmart – Hệ các giải pháp công nghệ cho nhà, văn phòng, công xưởng, bệnh viện, khách sạn – resort, thành phố thông minh giúp quản lý, điều khiển các thiết bị mọi lúc mọi nơi, hoặc theo kịch bản định trước.

Tương tự, trong thời gian còn lại của năm 2020, Công ty cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận – PNJ cũng kiên định với những định hướng trong chiến lược tăng trưởng dài hạn. Cụ thể, tăng trưởng vững chắc với trọng tâm duy trì và phát triển vị thế PNJ tại những thị trường trọng điểm, gia tăng năng lực bán hàng online; không ngừng phát triển đồng bộ năng lực sản xuất, quản trị chuỗi cung ứng, quản trị chiến lược, marketing… để tạo sức mạnh toàn diện của doanh nghiệp.

Theo đại diện PNJ, doanh nghiệp đã và đang tái tạo nguồn lực và gia tăng lực đẩy tăng trưởng mới thông qua giải pháp tái cấu trúc quyết liệt trên tất cả phương diện. Điển hình, Trung tâm chuyển đổi số hóa của PNJ được thành lập, hướng đến mục tiêu đẩy mạnh tiến trình số hóa, phát triển và quản trị hiệu quả các dự án công nghệ, cũng như tiếp tục tối ưu hóa ERP (phần mềm quản lý sản xuất). Ngoài ra, PNJ tái cấu trúc nguồn nhân lực để tạo điều kiện cho mỗi thành viên phát huy tối đa năng lực, gia tăng năng lực thực thi trên cơ sở không ngừng đổi mới tư duy, hành động.

Đồng hành cùng doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình phục hồi nhu cầu thị trường, mang lại sức bật mới cho nền kinh tế TP Hồ Chí Minh, Sở Công Thương thành phố đã triển khai hàng loạt chương trình kích cầu tiêu dùng; trong đó, có thể kể đến chương trình “60 ngày vàng khuyến mãi trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh” diễn ra từ nay đến hết ngày 30/7/2020. Hay chương trình “Kích cầu tiêu dùng năm 2020” sẽ diễn ra từ ngày 2 – 5/7/2020.

Bà Nguyễn Huỳnh Trang, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Hồ Chí Minh cho hay, các chương trình kích cầu tiêu dùng luôn phân bổ thành hai khu vực chính là sản phẩm TP Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành trên cả nước. Điều này nhằm hướng đến mục tiêu tổ chức kết nối trực tiếp đơn vị sản xuất – cung ứng – phân phối – xuất khẩu thông qua hoạt động xúc tiến, triển lãm giới thiệu sản phẩm chủ lực, đặc sản.

Thống kê đến thời điểm hiện tại, những chương trình kích cầu đã và đang diễn ra thu hút sự tham gia của gần 1.300 doanh nghiệp, với hơn 1.700 chương trình được thực hiện tại 235 chợ truyền thống, 217 siêu thị, 45 trung tâm thương mại, hàng ngàn cửa hàng và nhiều kênh thương mại điện tử đang hoạt động trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.

Nguồn: Mỹ Phương


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ , tư vấn  phần mềm quản lý doanh nghiệp cho các doanh nghiệp để có  giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Doanh nghiệp tối ưu nguồn lực bằng robot phần mềm

Doanh nghiệp tối ưu nguồn lực bằng robot phần mềm

akaBot – sản phẩm tự động hóa quy trình bằng robot do FPT Software phát triển giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động thông suốt khi nhân viên làm việc tại nhà.

Một ngân hàng tại Việt Nam sau khi triển khai tự động hóa quy trình tạo hợp đồng vay vốn đã có thể xử lý được gần 3.000 yêu cầu vay vốn với thời gian trong 1 ngày, tiết kiệm được 60% nguồn lực và 80% thời gian xử lý công việc. Hay một công ty trong lĩnh vực nhân sự với qui mô hơn 2.000 nhân sự, khi triển khai quy trình tự động hóa trong quản lý nhân sự đã tiết kiệm được 50% và góp phần tăng gấp đôi giá trị cổ phiếu.

Đây chỉ là hai trong số các khách hàng đã triển khai giải pháp tự động hóa quy trình bằng robot – akaBot do FPT Software phát triển. AkaBot có thể giúp tự động hóa hàng trăm quy trình nghiệp vụ khối văn phòng, tiết kiệm chi phí nhân công, tăng năng suất và giảm thiểu tối đa các sai sót.

Với các yêu cầu truy cập hệ thống từ xa, akaBot sẽ tiếp nhận yêu cầu trên trung tâm hỗ trợ IT, thu thập thông tin, sau đó thực hiện cấu hình trên hệ thống quản lý VPN/VDI/Onedrive và trả lại kết quả cho người yêu cầu. (VPN, VDI… là các công cụ internet phổ biến hỗ trợ làm việc tại nhà. Mạng nội bộ ảo VPN, giải pháp ảo hóa hạ tầng máy tính VDI, lưu trữ dữ liệu đám mây Microsoft Onedrive…)

akaBot - sản phẩm RPA do FPT Software phát triển

Đại diện FPT Software cho hay với giải pháp tự động hóa akaBot, hệ thống hỗ trợ truy cập tài nguyên làm việc của công ty cho người dùng khi không làm việc tại văn phòng. Do đó dù ở nhà, nhân viên vẫn có thể thực hiện các cuộc họp online với đồng nghiệp và khách hàng, chia sẻ dữ liệu nội bộ, hoàn thiện văn bản hợp đồng, lập trình sản phẩm như ở văn phòng.

Tất cả các yêu cầu truy cập hệ thống, dữ liệu nội bộ của công ty được akaBot giải quyết nhanh chóng (tiết kiệm thời gian lên tới 90%), liên tục không gián đoạn (robot hoạt động 24/7), giảm thiểu sai sót thường gặp phải với tình trạng xử lí thủ công số lượng lớn các công việc lặp đi lặp lại (độ chính xác lên tới 100%).

AkaBot có thể được ứng dụng giải quyết các quy trình nghiệp vụ có tính lặp đi lặp lại cho các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Y tế, Quản trị nguồn lực , Tài chính – Ngân hàng, Sản xuất, Bán lẻ, Hàng tiêu dùng nhanh, Logistics… giúp doanh nghiệp vận hành chính xác và tối ưu nhất.

Ông Bùi Đình Giáp - Giám đốc giải pháp akaBot thuộc FPT Software chia sẻ về cách sản phẩm vận hành hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu nguồn lực

Ông Bùi Đình Giáp, Giám đốc giải pháp akaBot, thuộc FPT Software cho biết: “Dựa trên kinh nghiệm làm việc với hàng trăm doanh nghiệp trên thế giới, FPT Software nhận ra nhiều lỗ hổng trong quá trình vận hành. akaBot bổ sung nhiều công nghệ mới dựa trên nền tảng FPT AI, tự động hoá, quản lý tập trung hàng trăm quy trình nghiệp vụ cùng một lúc, tối ưu hóa nguồn lực tối đa”. “Tốc độ xử lý của robot chúng tôi cam kết là nhanh hơn nhiều lần. Trong vòng từ 2 đến 4 tuần là doanh nghiệp có thể thấy hiệu quả của akaBot”, ông Giáp khẳng định.

akaBot là giải pháp duy nhất của Việt Nam có tên trong danh sách Top 30 sản phẩm RPA hàng đầu thế giới do RPA Hack đánh giá

Tháng 3/2020, akaBot đã giành được hợp đồng mới từ việc bán bản quyền sử dụng (license) cho một doanh nghiệp home shopping Hàn Quốc, trong bối cảnh dịch Covid 19 tác động mạnh mẽ lên nền kinh tế đứng thứ 3 châu Á này. Trước đó, năm 2019, tổng giá trị bán bản quyền của akaBot trên toàn thế giới đạt hơn 8 triệu USD. Điều này một lần nữa khẳng định hiệu quả thực tế của akaBot trong quá trình hỗ trợ vận hành doanh nghiệp, được khách hàng công nhận và tin tưởng sử dụng.

Ra đời vào cuối năm 2018, akaBot là sản phẩm duy nhất của Việt Nam có tên trong danh sách Top 30 sản phẩm RPA đứng đầu thế giới, bên cạnh các sản phẩm đình đám được đầu tư hàng trăm triệu USD như UiPath, BluePrism… Mới đây, sản phẩm vừa nhận được giải Sao Khuê, tôn vinh các sản phẩm, cá nhân và tổ chức có thành tích xuất sắc, đóng góp cho sự phát triển ngành công nghiệp phần mềm và công nghệ thông tin Việt Nam.


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Sản phẩm có thể tích hợp với máy móc sản xuất và đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới. Chúng tôi hỗ trợ, tư vấn, và triển khai phần mềm quản lý ERP cho nhiều doanh nghiệp. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

tiêu chí quản lý nhân sự từ xa

6 tiêu chí giúp doanh nghiệp quản lý nhân sự làm việc từ xa hiệu quả

Cung cấp công nghệ đáng tin cậy, đẩy mạnh trang bị kỹ thuật số cho nhân viên… là những điều cần thiết để nhân viên các công ty làm việc từ xa và mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp.

Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 khiến rất nhiều doanh nghiệp trên toàn thế giới đang chuyển từ mô hình làm việc chung trong văn phòng sang làm việc tại nhà, hay còn gọi là làm việc từ xa.

Theo Tiến sĩ Phạm Công Hiệp, Giảng viên cấp cao Khoa Kinh doanh và Quản trị, Đại học RMIT Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đang ứng phó với COVID-19 bằng cách chuyển dịch vụ của mình lên các nền tảng trực tuyến và xây dựng những chính sách làm việc ở nhà cho nhân viên.

Theo Tiến sĩ Hiệp, mô hình làm việc tại nhà đem đến nhiều lợi ích cho các tổ chức, không chỉ trên phương diện tăng năng suất, giảm chi phí hoạt động và giảm thiểu gián đoạn hoạt động, mà còn tác động tích cực đến môi trường, sự bình an của toàn thể xã hội và của mỗi người lao động.

“Công việc và cuộc sống cân bằng hơn, tai nạn giao thông sẽ giảm đi. Mô hình này cũng giúp giao thông bớt tắc nghẽn và lượng khí thải do xăng dầu cũng giảm do người dân bớt di chuyển đến nơi làm việc, và áp lực lên hệ thống giao thông công cộng cũng được giải tỏa phần nào”, tiến sĩ Hiệp nhận định.

Mặc dù làm việc tại nhà đem lại nhiều lợi ích to lớn, đa số doanh nghiệp chỉ xem đây là giải pháp tình thế trước ngoại cảnh không thể tránh khỏi, chứ không phải lựa chọn khả thi lâu dài. Theo tiến sĩ Hiệp, điều này có thể do một số quan ngại về tính hiệu quả chưa được kiểm chứng của mô hình làm việc tại nhà, về việc thiếu giám sát nhân viên, thiếu tính cộng đồng thực hành, ít tương tác trực tiếp với đồng nghiệp và khách hàng, về năng suất và độ tin cậy thấp, cũng như việc trao đổi kém do bị phân tâm hay phải đón nhận quá nhiều luồng thông tin.

Để nhân viên làm việc tại nhà hiệu quả

Mặc dù làm việc từ xa vẫn đang đặt ra nhiều thách thức cho cách vận hành doanh nghiệp theo lối truyền thống, lãnh đạo doanh nghiệp vẫn nên xem xét ý nghĩa chiến lược của hình thức này và coi đây là một phần của mô hình kinh doanh chiến lược trong dài hạn.

Tiến sĩ Hiệp đề xuất các bước chuẩn bị sau đây để giúp làm việc tại nhà trở thành mô hình làm việc tích hợp thành công hơn.

– Thay đổi tư duy lãnh đạo: Thay vì dựa vào sự hiện diện của nhân viên tại nơi làm việc để đo lường hiệu suất, cấp quản lý cần chuyển trọng tâm sang cho phép nhân viên làm việc từ bất cứ đâu, miễn đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra. Cách quản lý vi mô có thể phản tác dụng và kìm hãm khả năng đổi mới sáng tạo của nhân viên.

– Giao tiếp hiệu quả nhưng không bị gián đoạn: Giao tiếp trong nhóm, giao tiếp giữa nhân viên và cấp quản lý, không nên bị lạm dụng vì nó có thể dẫn đến quá tải thông tin và thường xuyên gián đoạn.

– Cung cấp các công nghệ đáng tin cậy để làm việc nhóm và cộng tác từ xa: Với những phần mềm cộng tác hết sức phong phú trên thị trường, cần xem xét nhiều yếu tố để đảm bảo rằng phần mềm mới tích hợp tốt với các nền tảng hiện có và hoạt động tốt, đặc biệt cho mục đích họp trực tuyến và làm việc theo nhóm ở quy mô lớn.

– Tạo dựng niềm tin và huấn luyện nhân viên: Áp dụng hình thức làm việc tại nhà trên quy mô lớn đồng nghĩa với việc cấp quản lý cần dựa vào tính kỷ luật và tự giác của nhân viên. Nhưng thực tế không phải ai cũng thích làm việc tại nhà vì cách làm này đòi hỏi cao về tính kỷ luật và khả năng tự tổ chức, điều có thể khiến quá trình chuyển đổi trở nên khó khăn. Những nhân viên như vậy có thể cần thêm hướng dẫn và hỗ trợ từ phía tổ chức để họ trở nên tự giác và làm việc hiệu quả.

– Đẩy mạnh trang bị khả năng kỹ thuật số cho nhân viên: Hình thức làm việc tại nhà yêu cầu nhân viên phải có kỹ năng vi tính cơ bản và có thể sử dụng các công nghệ viễn thông đa dạng. Một số nhân viên có thể bị choáng ngợp bởi các yêu cầu công việc liên tục ập tới, cũng như các phần mềm làm việc nhóm và các công nghệ phức tạp cần phải làm quen. Tổ chức có thể hỗ trợ nhân viên bằng cách cung cấp đào tạo về kỹ năng kỹ thuật số và hỗ trợ công nghệ thông tin (CNTT) kịp thời.

– Quản lý chi phí: Làm việc tại nhà đòi hỏi cả nhân viên và doanh nghiệp phải đầu tư vào CNTT nhiều hơn. Nhân viên cần được trang bị tối thiểu một máy tính, phần mềm cần thiết, camera và đường truyền internet nhanh. Các tổ chức có thể phải trả thêm phí sử dụng các phần mềm cộng tác ảo và các biện pháp bảo mật bổ sung để đảm bảo nhân viên có thể truy cập an toàn những tài nguyên trực tuyến, đồng thời ngăn ngừa rủi ro từ việc lạm dụng tài nguyên của tổ chức một cách vô tình hay cố ý.


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ , tư vấn  phần mềm quản lý doanh nghiệp cho các doanh nghiệp để có  giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Covid-19 dồn nhiều doanh nghiệp rút ngắn thời gian chuyển đổi số

Doanh nghiệp rút ngắn thời gian chuyển đổi số do Covid-19

Thực ra lợi ích của công nghệ thì ai cũng thấy rõ, sự chuẩn bị cho một cuộc cách mạng để số hóa doanh nghiệp có lẽ đã sẵn sàng từ lâu, chỉ là chúng ta chưa bị đặt vào tình thế cấp bách, cho nên chúng ta vẫn trì hoãn, hoặc thiếu quyết liệt trong quá trình triển khai. Đây chính là thời điểm, Covid-19 đang tạo tiền đề cho những thay đổi quan trọng về sau.
Covid-19 âm thầm tạo ra những lực đẩy mạnh mẽ

Đại dịch covid-19 đã gây ra nhiều thiệt hại khôn lường đối với các doanh nghiệp. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ suy giảm mạnh trong quý I/2020. Bloomberg dự báo ảnh hưởng của dịch Covid-19 lên nền kinh tế toàn cầu có thể lớn gấp 3 đến 4 lần so với SARS, với mức gây tổn thất lên tới 160 tỷ USD.

Ở Việt Nam, nhiều chuỗi F&B lớn phải đóng bớt cửa hàng trong thời điểm tâm dịch, tiểu thương điêu đứng vì không có khách mua, dịch vụ khách sạn, lữ hành bù lỗ hàng tỷ đồng, không ít công ty đang đứng trên bờ vực phá sản.

Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ khác, Covid-19 đang âm thầm tạo ra những lực đẩy mạnh mẽ khiến các doanh nghiệp phải oằn mình để thích ứng. Chính điều này đã góp phần tạo nên những động thái quyết liệt từ phía ban lãnh đạo nhằm cải tổ lại bộ máy và quy trình làm việc. Nếu biết tận dụng tốt, thì đây có thể được xem là thời cơ để doanh nghiệp thay đổi cách thức vận hành và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.

Trao đổi về góc nhìn này, anh Phạm Duy Tùng, COO của Amber Online Education, một startup chuyên cung cấp dịch vụ đào tạo trực tuyến cho các doanh nghiệp chia sẻ: “Tôi nghĩ rằng, chính trong thời điểm khó khăn, chúng ta sẽ có xu hướng nhìn nhận lại và rà soát sâu hơn các vấn đề mình gặp phải để đưa ra giải pháp thích ứng. Quá trình này giúp nhà quản lý có cơ hội va chạm trực tiếp với nhân viên, chú ý đến những số liệu mà trước nay có thể mình bỏ qua, thấy được các lỗ hổng trong hệ thống quản trị. Doanh nghiệp, vì nhu cầu làm việc online trên nền tảng công nghệ, cũng sẽ được thúc đẩy để làm quen với phần mềm, ứng dụng các công cụ quản lý & đào tạo trực tuyến, hoặc thậm chí phát triển các dòng sản phẩm mới phù hợp với tình hình thị trường.”

Được biết chính AMBER cũng đã bắt đầu triển khai hình thức làm việc từ xa từ ngày 9/3 áp dụng đối với hơn 100 nhân sự. Theo đánh giá ban đầu, tình hình khá khả quan, hiệu suất đạt 80-90% điều này vượt sự mong đợi ban đầu của ban giám đốc.

Doanh nghiệp thay đổi quy trình để thích ứng với tình hình dịch bệnh

Rất nhiều doanh nghiệp khác cũng có kế hoạch chuẩn bị để sẵn sàng chuyển đổi sang mô hình làm việc từ xa nhằm đảm bảo an toàn cho nhân viên và tránh tình trạng dịch bệnh lây lan trên diện rộng. Theo đó một số quy trình sẽ được cải biến và tinh gọn để có thể đưa lên phần mềm nhằm hỗ trợ quá trình cộng tác và trao đổi online.

Ví như việc phê duyệt các đề xuất, nếu muốn triển khai được trên hệ thống, doanh nghiệp cần chuẩn hóa và thống kê lại tất cả các loại đề xuất, form mẫu, cũng như quy định rõ quyền hạn trách nhiệm phê duyệt thuộc về ai. Từ đó việc kiểm soát, lưu trữ, phân luồng thông tin cũng trở nên dễ dàng. Nhân viên nhờ vậy cũng sẽ hình dung rõ hơn về quy trình làm việc và theo dõi được đề xuất của mình đang phê duyệt đến bước nào, phải trao đổi với ai để hoàn thành được công việc.

Đối với một số doanh nghiệp đã hoàn thiện được quy trình từ trước, việc chuyển đổi sang hình thức làm việc này không gặp quá nhiều trở ngại. Bài toán là làm sao để đảm bảo được hiệu suất khi đột ngột thay đổi môi trường làm việc.

Theo chia sẻ của anh Hùng Đinh, Founder & CEO DesignBold, người khởi xướng thành lập nên cộng đồng Việt Nam Remote Working: “Thực ra mọi người đang quá chú trọng đến công cụ, mà quên đi nhiều yếu tố quan trọng khác để Remote Working trở nên hiệu quả.”

“Tôi cho rằng, khó khăn lớn nhất là làm sao hình thành được tư duy và thái độ nghiêm túc khi làm việc từ xa, điều này gắn liền với ý thức tự thân của người lao động và cơ chế đánh giá nhân viên. Đối với những công ty đã sử dụng hình thức làm việc từ xa ngay từ ban đầu thì họ sẽ tuyển những người có tố chất phù hợp, còn đối với tình trạng doanh nghiệp phải thay đổi để thích ứng như hiện nay thì không có cách nào khác là lãnh đạo phải làm gương, phải đồng lòng cùng anh em thay đổi thói quen, thậm chí có những chế tài phù hợp.

Điều quan trọng thứ 2 như tôi vừa đề cập chính là việc thay đổi tư duy quản lý, phương thức đánh giá phải khác đi, không phải quản lý theo thời gian làm việc mà tập trung vào kết quả, vào hiệu suất, vào sự đóng góp thực tế của nhân viên. Lúc này doanh nghiệp buộc phải xây dựng KPI, OKR (objective and key results) rất rõ ràng, và sự vào cuộc của công nghệ là cần thiết. Chúng ta cần công cụ để quản trị và đo lường kết quả, hệ thống đánh giá phải minh bạch, chính xác.”

Cơ hội để hình thành thói quen sử dụng phần mềm cho nhân viên

Nếu như trước đây việc làm quen với các công cụ mới vẫn còn là rào cản lớn trong quá trình triển khai phần mềm do tâm lý ngại thay đổi từ phía nhân viên; thì bây giờ mọi chuyện lại được đặt trong tình thế “không thể không sử dụng”. Do quá trình trao đổi và tiếp xúc trực diện bị hạn chế, một số doanh nghiệp còn áp dụng hình thức làm việc tại nhà, cho nên đa phần các tác vụ đều được thực hiện trên nền tảng online. Lúc này bản thân nhân viên phải tự giác thích nghi và thay đổi để có thể hòa nhập với môi trường làm việc chung.

“Những ngày vừa qua, việc đào tạo và triển khai phần mềm cho các khách hàng của Base trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nếu không triển khai được trực tiếp thì khách hàng cũng đề xuất phương án để triển khai online chứ không trì hoãn, mục tiêu trước mắt là để nhân viên đều có thể hiểu hết tính năng và sử dụng thành thạo phần mềm. Có lẽ các doanh nghiệp cũng đang đặt mình trong tâm thế sẵn sàng để ứng phó với Covid-19 nếu tình hình có diễn biến phức tạp hơn nữa. Một số khách hàng còn lạc quan nhận định, đây là thời điểm để chúng ta tập trung vào việc cải tổ bộ máy và số hóa các quy trình”, anh Trần Văn Viển – giám đốc khu vực phía Nam của Base.vn, một đơn vị đang cung cấp nền tảng quản trị online cho hơn 5000 doanh nghiệp Việt cho biết.

“Thực ra lợi ích của công nghệ thì ai cũng thấy rõ, sự chuẩn bị cho một cuộc cách mạng để số hóa doanh nghiệp có lẽ đã sẵn sàng từ lâu, chỉ là chúng ta chưa bị đặt vào tình thế cấp bách, cho nên chúng ta vẫn trì hoãn, hoặc thiếu quyết liệt trong quá trình triển khai. Đây chính là thời điểm, Covid-19 đang tạo tiền đề cho những thay đổi quan trọng về sau”, đại diện Base cho biết thêm.

Tận dụng triệt để những lợi thế của công nghệ

Có thể nói chưa bao giờ công nghệ lại được tận dụng triệt để như giai đoạn hiện nay. Doanh nghiệp sử dụng Zoom để tổ chức các cuộc họp trực tuyến, sử dụng Google Meet để điểm danh và chấm công, sử dụng Base Workflow để quản lý các quy trình nội bộ, sử dụng Base Wework để giao việc cho nhân viên.

Covid-19 thậm chí đã khiến nhiều doanh nghiệp quan tâm đến những giải pháp mà trước nay ít ai đề cập đến, như hình thức chấm công qua điện thoại, hoặc giải pháp chấm công qua FaceID – sử dụng trí tuệ nhân tạo AI để nhận diện khuôn mặt.

Trước những tác động tiêu cực mà Covid-19 gây ra, thì đây có thể coi là một vài điểm sáng khả quan, mà nếu biết tận dụng tốt, doanh nghiệp không những sẽ tiết kiệm được chi phí vận hành, nâng cao hiệu suất mà còn xây dựng được nền tảng vững chắc cho những bước chuyển đổi quan trọng về sau.

Nguồn: Kiều Anh ( Tri thức trẻ)


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Epicor ERP là phần mềm trọn gói, tích hợp tất cả các tính năng như đề cập ở trên và phù hợp với các tập đoàn quốc tế hoặc các doanh nghiệp có quy mô nhân sự trên nghìn người. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp về quá trình chuyển đổi số cho doanh nghiệp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp doanh nghiệp tuyển tài năng

Trí tuệ nhân tạo giúp doanh nghiệp tuyển dụng tài năng

Vài năm qua, việc áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong tuyển dụng đã tăng lên và thực tế đó đã cải thiện quy trình tuyển dụng của các doanh nghiệp tận dụng lợi thế của nó.

Ban đầu, sự xuất hiện của AI không được hoan nghênh, không chỉ vì các chuyên gia tin rằng họ sẽ giành công việc của nhân sự, mà đặc biệt là vì khả năng nó sẽ khiến quá trình tuyển dụng trở nên quá máy móc và loại bỏ yếu tố “con người” thiêng liêng trong hoạt động nhân sự.

AI đã thực hiện mọi vai trò trong tuyển dụng, nhưng không biến những nỗi lo thành sự thực. Nó không cướp việc làm cũng như không hoàn toàn giành việc của bộ phận nhân sự.

Ngược lại, nó bổ trợ cho công việc của các nhóm tuyển dụng và làm cho quá trình tuyển dụng nhanh hơn và hiệu quả hơn. Vai trò ấy làm giảm chi phí và đảm bảo thuê chất lượng hơn.

Trong một cuộc khảo sát năm 2018, tới 69% các chuyên gia tuyển dụng tài năng thừa nhận rằng AI đã cho phép họ thuê các ứng cử viên chất lượng cao hơn.

Cải thiện sự tương tác giữa nhà tuyển dụng với ứng viên

Một trong những doanh nghiệp phát triển nhanh nhất trong việc thúc đẩy các giải pháp tuyển dụng là Jobpal. Đây là một công ty phần mềm chatbot sử dụng mọi nền tảng nhắn tin phổ biến nào (WhatsApp, LINE, Telegram, Facebook messenger hoặc thậm chí SMS) để tạo ra phần mềm đảm bảo tương tác với khách hàng tốt hơn.

Lợi ích của việc sử dụng AI theo cách này để tuyển dụng mang tính hai chiều. Khách hàng doanh nghiệp tận hưởng qui trình tự động hóa và có thể tăng năng suất trong thời gian ngắn hơn.

Mặt khác, ứng viên được cung cấp trải nghiệm phong phú hơn với qui trình nộp đơn dễ dàng, trả lời ngay lập tức các yêu cầu, hỗ trợ liên tục, lên lịch phỏng vấn và chuyển thông tin cần thiết khác.

Sàng lọc ứng viên

Nhà tuyển dụng còn có thể sử dụng AI để sàng lọc sơ yếu lý lịch và rút gọn danh sách các ứng cử viên phù hợp nhất một cách sáng suốt. AI thực hiện qui trình ấy bằng các thuật toán để tìm các từ khóa nhất định trong các tài liệu ứng dụng mà nó thấy phù hợp. Tuy nhiên, hệ thống AI của một số doanh nghiệp còn thực hiện nhiều việc hơn thế.

Ví dụ, Ideal có phần mềm không chỉ sàng lọc lại mà còn có thể phân tích mọi nguồn dữ liệu ứng viên và sử dụng phân tích dự đoán để xác định ứng viên có nhiều khả năng thành công trong công việc.

Khả năng đó không chỉ cải thiện chất lượng của việc tuyển dụng, mà còn đảm bảo rằng những tài năng dễ tuyển nhất sẽ gia nhập công ty.

Kiểm tra năng lực

Tùy thuộc vào vị trí cần tuyển, các công ty thường để người xin việc trải qua nhiều giai đoạn để đảm bảo họ chỉ chọn những ứng viên hội tụ đủ điều kiện nhất, nhưng qui trình ấy cũng có thể trở thành nút thắt.

Nhiều doanh nghiệp đang tìm cách sử dụng các ứng dụng AI để hỗ trợ quá trình đó. Một công ty như vậy, TopDevz, đã coi AI là một cơ hội và tạo ra một nền tảng phỏng vấn video một chiều giúp tăng tốc độ mà nhà tuyển dụng có thể xử lí ứng viên.

Cuộc phỏng vấn này sau đó có thể được chia sẻ với nhiều người ra quyết định để xem xét và xem vào thời gian riêng của họ và được sao chép vào cơ sở dữ liệu, nơi mọi người có thể dễ dàng tìm câu trả lời bằng lời nói của họ cho các từ khóa.

Giới doanh nghiệp ngày càng tập trung vào các kĩ năng mềm trong thập kỉ qua. Các nhà quản lý đang tìm cách tuyển những ứng viên không chỉ có năng lực, mà còn có tính cách tuyệt vời.

Những kĩ năng mềm đó có thể bao gồm các kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phê phán và nói trước công chúng, và nghiên cứu đã chứng minh rằng chúng rất quan trọng đối với thành công của nhân viên trong công việc.

Đánh giá tính cách

Đến tận bây giờ, các nhà quản lý tuyển dụng vẫn phải dựa vào manh mối trên khuôn mặt và trực giác của chính họ. Tuy nhiên, vẻ bề ngoài có thể đánh lừa, và thật dễ dàng để một ứng cử viên cố thực một hành động tốt chỉ để vượt qua giai đoạn phỏng vấn.

Nhưng một công ty như Humantic hiện đang thay đổi viễn cảnh ấy, cho phép các công ty tổ chức các bài kiểm tra tính cách thông qua AI. Đôi khi, bằng cách yêu cầu ứng viên chơi một trò chơi hoặc trả lời một số câu hỏi dường như vô hại, nhà tuyển dụng có thể hiểu rõ hơn về tính cách của họ và đưa ra quyết định tuyển dụng hợp lí hơn.


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Đề án IFRS được phê duyệt và cơ hội cho doanh nghiệp

Thực hiện sớm IFRS, cơ hội để doanh nghiệp mạnh hơn

(ĐTCK) Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt đề án áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam, mở ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế. Ông Bùi Văn Trịnh, Phó tổng giám đốc phụ trách dịch vụ tư vấn chuyển đổi áp dụng IFRS của Deloitte Việt Nam chia sẻ về nội dung này. 

Quyết định 345 mà Bộ Tài chính mới ban hành có khác nhiều so với bản dự thảo trước đó không, theo ông?

Nội dung của Quyết định 345/QÐ-BTC gần như không thay đổi so với dự thảo đề án đã lấy ý kiến công chúng vào tháng 4/2019, cũng như những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ về đề án này tại các hội nghị dành cho công ty niêm yết trong thời gian qua.

Theo đó, lộ trình áp dụng IFRS sẽ được chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn tự nguyện từ năm 2022 – 2025 và giai đoạn bắt buộc từ sau năm 2025.

Ðối tượng điều chỉnh chính của quyết định là báo cáo tài chính hợp nhất của một số loại hình doanh nghiệp mà chủ yếu là doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp đại chúng có quy mô lớn, và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn hoặc có sử dụng vốn của các định chế tài chính quốc tế.

Quyết định 345 đánh dấu một bước tiến lớn trên con đường chuyển đổi áp dụng IFRS tại Việt Nam.

Quyết định này sẽ được cộng đồng quốc tế xem như là một tuyên bố chính thức của Việt Nam trong việc ủng hộ Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (hay còn gọi là IFRS) không chỉ là một ngôn ngữ kế toán toàn cầu mà còn là ngôn ngữ kinh doanh quốc tế, đồng thời đưa Việt Nam vào bản đồ các quốc gia và vùng lãnh thổ có áp dụng IFRS.

Theo ông, Quyết định 345 sẽ tác động như thế nào đối với cộng đồng doanh nghiệp?

Quyết định 345 đặt ra yêu cầu tuân thủ mới cho một số đối tượng doanh nghiệp trên thị trường.

Không giống như những yêu cầu tuân thủ khác thường không có nhiều lựa chọn cho doanh nghiệp để thực hiện, Quyết định này cho phép doanh nghiệp lựa chọn cách thức và thời điểm thực hiện việc chuyển đổi áp dụng báo cáo tài chính theo chuẩn mực IFRS.

Dựa trên kinh nghiệm chuyển đổi áp dụng IFRS của Deloitte trên các quốc gia như Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Thai Lan và Indonesia…, tôi cho rằng, việc đảm bảo tuân thủ yêu cầu mới này chắc chắn sẽ tác động đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp.

Một dự án chuyển đổi áp dụng IFRS thông thường sẽ rất khác nhau giữa các doanh nghiệp, tùy thuộc vào ngành nghề hoạt động kinh doanh và tùy thuộc vào độ trưởng thành trong quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Ðó cũng là khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và IFRS. Chúng tôi đo độ trưởng thành này bằng việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo phương pháp thủ công hay bằng hệ thống phần mềm ERP.

Chuyển đổi áp dụng IFRS không đơn thuần là câu chuyện về kế toán của riêng bộ phận kế toán, mà gần như sẽ tác động đến tất cả bộ phận của doanh nghiệp, bao gồm nhân sự, tài chính, kế hoạch, hệ thống công nghệ thông tin, thuế, quản lý rủi ro và các thủ tục kiểm soát.

Tùy thuộc vào lựa chọn của doanh nghiệp mà các tác động của Quyết định 345 có thể ảnh hưởng đến cả ba yếu tố của một doanh nghiệp là con người, quy trình và hệ thống của doanh nghiệp.

Là người đồng hành với nhiều doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi IFRS, ông có lời khuyên nào cho các doanh nghiệp?

IFRS là một bộ chuẩn mực nguyên tắc, theo đó chính sách kế toán theo IFRS là một sự lựa chọn. Các lựa chọn này cung cấp cơ hội cho các doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi áp dụng IFRS.

Các doanh nghiệp cần sớm đưa ra các lựa chọn của mình trong quá trình thực hiện chuyển đổi áp dụng IFRS.

Bằng việc thực hiện sớm quá trình này, doanh nghiệp có thể thu hút được nhân tài trong lĩnh vực này (trước khi nó trở nên khan hiếm), đồng thời, gia tăng lợi thế cạnh tranh so với đối thủ trong cùng lĩnh vực.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận được thị trường vốn mới và quan trọng hơn hết là có thể thực hiện quá trình này theo tốc độ mà mình mong muốn và luôn đảm bảo tập trung đủ nguồn lực cho hoạt động chính của doanh nghiệp.

Việc áp dụng IFRS liệu có gây áp lực đến các doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay không, thưa ông?

Hiện tại, trong bối cảnh khủng hoảng của đại dịch Covid-19, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp đang phải gồng mình để quản trị doanh nghiệp hiệu quả, vượt qua giai đoạn khủng hoảng tạm thời này.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi áp dụng IFRS là một quyết định mà theo tôi cần được các lãnh đạo doanh nghiệp tham gia, vì sự tác động sâu rộng đến các yếu tố con người, quy trình và hệ thống của toàn doanh nghiệp.


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Hơn nữa, mô đun quản lý tài chính của Epicor đã được Việt hoá, đáp ứng được cả yêu cầu trong nước và quốc tế theo nhu cầu của chính doanh nghiệp. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.