Author - Nhung Mai

ERP có thể giúp các công ty phát triển như thế nào

ERP có thể giúp các công ty phát triển như thế nào?

ERP là từ viết tắt của “Enterprise Resource Planning”, tạm dịch là hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp, là một giải pháp với mục đích hỗ trợ quản trị doanh nghiệp phát triển. Hi vọng lớn nhất đối với ERP đó là nó có thể cải thiện việc xử lí đơn hàng cũng như những thứ liên quan đến doanh thu, lợi nhuận, xuất hóa đơn… Đây là những thứ được gọi với cái tên “fulfillment process”, và cũng vì lý do này mà ERP hay được gọi là một “phần mềm chống lưng” cho các công ty.  Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây có xuất hiện thêm một số module để quản lý khách hàng, chứ trước đó ERP chỉ tập trung vào việc tự động hóa những bước khác nhau trong hoạt động của công ty sản xuất.

Khi một nhân viên nhập thông tin đơn hàng vào, anh ta sẽ có hết tất cả những thông tin cần thiết để hoàn tất order. Ngoài ra, tất cả những nhân viên khác có liên quan đều có thể cập nhật thông tin và có thể theo dõi tiến độ của một đơn hàng bất kì khi nào. ERP mang lại một thứ “ma thuật” giúp khách hàng nhận thứ mình mua nhanh hơn vì thông tin ít bị trễ, ít lỗi hơn, và “ma thuật” đó cũng áp dụng cho cả những hoạt động khác như tính lương cho nhân viên hay tạo báo cáo tài chính.

ERP-giúp-các-công-ty-như-thế-nào-data-v-tech

Dưới đây là một số lĩnh vực ERP hỗ trợ cho các công ty:

1.Kiểm soát thông tin khách hàng: như đã nói ở trên, vì dữ liệu nằm chung ở một nơi nay mọi nhân viên trong công ty đều có thể truy cập và xem thông tin khách hàng, một số người có quyền thì có thể đổi cả thông tin mà không lo sợ hồ sơ khách hàng không được cập nhật xuyên suốt các bộ phận khác nhau. Ngay cả một ông CEO cũng có thể dễ dàng xem ai mua cái gì ở đâu và bao nhiêu tiền.

2.Tăng tốc quá trình sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ: ERP có thể phục vụ như một công cụ giúp tự động hóa một phần hoặc tất cả quy trình sản xuất, từ việc chuẩn bị nguyên vật liệu cho đến ra thành phẩm, quản lý đầu ra đầu vào, đóng gói và nhiều thứ khác. Vì chỉ sử dụng một hệ thống máy tính duy nhất nên công ty có thể tiết kiệm thời gian, giảm chi phí, tăng năng suất và giảm lượng nhân sự cần thiết. Người quản lý có thể xem tất cả mọi thông số của công ty trong một giao diện hợp nhất, không phải nhảy từ khu vực này sang khu vực khác chỉ để kiếm vài con số.

3.Kiểm tra chất lượng, quản lý dự án: ERP giúp doanh nghiệp kiểm tra và theo dõi tính đồng nhất trong chất lượng sản phẩm, đồng thời lên kế hoạch và phân bổ nhân lực một cách hợp lý tùy nhu cầu dự án. Mình được biết là ERP còn có thể tự động kiểm tra trong cơ sở dữ liệu xem nhân viên nào có thế mạnh nào rồi tự gán họ vào từng tác vụ của dự án, người quản lý không phải mất nhiều thời gian cho công đoạn này.

4.Kiểm soát thông tin tài chính: để hiểu được hiệu suất của công ty mình ra sao, người quản lý sẽ phải tìm hiểu số liệu từ nhiều bộ phận khác nhau, nhiều khi có cái đúng, có cái sai, có cái theo tiêu chuẩn này, có cái thì theo tiêu chuẩn khác. ERP thì tổng hợp hết mọi thứ liên quan đến tài chính lại một nơi và số liệu chỉ có một phiên bản mà thôi, hạn chế tiêu cực cũng như những đánh giá sai lầm của người quản lý về hiệu năng của doanh nghiệp. ERP cũng có thể giúp tạo ra các bản báo cáo tài chính theo những chuẩn quốc tế như IFRS, GAAP, thậm chí cả theo tiêu Kế toán Việt Nam cũng được luôn.

5.Kiểm soát lượng tồn kho: ERP giúp kiểm soát xem trong kho còn bao nhiêu hàng, hàng nằm ở đâu, nguyên vật liệu còn nhiều ít ra sao. Việc này giúp các công ty giảm vật liệu mà họ chứa trong kho, chỉ khi nào cần thiết thì mới nhập thêm (chữ Planning trong ERP ý chỉ việc giúp doanh nghiệp lên kế hoạch cho các hoạt động của mình, và đây là một ví dụ). Tất cả sẽ giúp giảm chi phí, giảm số người cần thiết, tăng nhanh tốc độ làm việc.

6.Chuẩn hóa hoạt động về nhân sự: nhờ ERP mà bên nhân sự có thể theo dõi sát sao giờ làm việc, giờ ra về, khối lượng công việc từng nhân viên đã làm là bao nhiêu (để tính lương bổng và các phức lợi này nọ), ngay cả khi những người nhân viên đó làm việc trong nhiều bộ phận khác nhau, ở nhiều khu vực địa lý khác nhau. Nhân viên cũng vui hơn vì với ERP, công ty có thể trả lương cho họ đúng thời gian hơn.

7.Giao tiếp, xã hội hóa việc liên lạc trong công ty: Bạn đừng nghĩ rằng môi trường doanh nghiệp thì không cần mạng xã hội, thực ra là có, và nó rất hữu ích trong việc liên lạc giữa nhân viên các phòng ban với nhau. Mình biết có một nền tảng tên là Ming.le cho phép mọi người trong một hệ thống ERP chat với nhau thời gian thực để truy vấn thông tin, y như khi bạn chat trên Facebook. Ông giám đốc có thể nhanh chóng chat với thủ kho hỏi xem mặt hàng X còn lại bao nhiêu cái, thủ kho tra kết quả ngay trong giao diện nền web rồi nói ngay cho giám đốc biết. Chưa kể đến việc ERP còn sở hữu khả năng hiển thị những tác vụ mà một người cần làm, xem cập nhật trạng thái từ những người cùng phòng,…

(Trích lược từ: Tinhte.vn )

Ngoài những chức năng cơ bản trên, ERP còn hỗ trợ các doanh nghiệp ở rất nhiều mảng khác tùy theo đặc thù ngành phát triển. Data V Tech sẵn sàng tư vấn miễn phí cho các bạn mọi thông tin về các giải pháp ERP phù hợp. Chúng tôi tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quý doanh nghiệp sớm nhất.

LH Industrial Supplies triển khai thành công Epicor ERP công nghệ đám mây (Epicor ERP điện toán đám mây)

Công ty LH Industrial Supplies triển khai thành công Epicor ERP

LH Industrial Supplies lựa chọn triển khai Epicor Prophet 21 – giải pháp ERP đám mây vận hành linh hoạt theo từng doanh nghiệp và sản phẩm được phát triển dựa trên chính hoạt động của ngành công nghiệp phân phối.

LH Industrial Supplies có trụ sở tại Lafayette, Indiana, được biết đến là nhà cung cấp MRO (vật tư phụ tùng thay thế sửa chữa cần thiết trong các hệ thống công nghiệp) và nhà cung ứng công nghiệp tổng hợp.

Được thành lập vào năm 1978, LH Industrial Supplies phân phối các sản phẩm đa dạng từ dụng cụ cầm tay đến ống thuỷ lực. Công ty có thương hiệu bền vững trên thị trường, độc quyền cung cấp cho các vùng phụ cận.

“Là một công ty nhỏ, việc có một chương trình phần mềm hàng đầu sẽ giúp chúng tôi cạnh tranh với các công ty lớn hơn trên thị trường.” Kregg nói. “Công nghệ đám mây Prophet 21 sẽ giảm thiểu tối đa chi phí, thời gian và công sức duy trì máy chủ, cho phép chúng tôi tập trung hoàn toàn vào công việc. Giờ đây chúng tôi có thể truy cập hệ thống ở bất cứ nơi nào, đồng nghĩa với việc hiệu quả công việc không ngừng được nâng cao.” – Ông Kregg Cheek – Giám đốc LH Industrial Supplies

Nâng cấp công nghệ

Gần đây, LH Industrial Supplies nhận ra rằng họ cần sự hỗ trợ từ công ty có liên quan trong lĩnh vực công nghệ. Họ đã và đang phải đối đầu với những người khổng lồ lớn như Amazon. Cuối cùng, Giám đốc Kregg Cheek nhận ra rằng họ cần một đối tác công nghệ hỗ trợ công ty áp dụng điện toán đám mây. Và LH Industrial Supplies đã chọn Epicor!

LH Industrial Supplies đã làm việc với Epicor từ năm 1991. “Khi ấy, đó là một chiếc hộp 4C” Ông Kregg nói. “Chúng tôi đã sử dụng hệ thống Prophet 21 hiện tại được 4 năm. Và chúng tôi đã nâng cấp lên đám mây công cộng Azure vào năm ngoái.”

Kregg không muốn phải đầu tư vào các máy chủ và cơ sở hạ tầng cho hệ thống của công ty. Ông hiểu rằng chi phí mua máy chủ cho công ty cũng như nhân lực để thực hiện việc duy trì là rất lớn . Vì vậy, việc nâng cấp hệ thống lên công nghệ đám mây là điều tất yếu.

Đây là một điều vô cùng ý nghĩa đối với tôi khi không phải lo lắng về việc duy trì tất cả các thiết bị và mọi thứ.”, Kregg nói. “Tôi thích việc có thể đăng nhập vào hệ thống của mình ở bất cứ nơi nào tôi muốn – dù chúng tôi làm việc ở nhà, trên đường hay đang trong kỳ nghỉ.”

Tăng hiệu quả

Sau khi tích hợp công nghệ đám mây, LH Industrial Supplies xử lý đơn đặt hàng nhanh hơn rất nhiều. Công ty có thể truy cập dữ liệu – ví dụ như toàn bộ hàng tồn kho – trong thời gian thực. Nhờ đó, họ sẽ quản lý hiệu quả doanh sốmọi lúc mọi nơi.

Ngoài ra, sau khi nâng cấp lên công nghệ điện toán đám mây, doanh thu và hiệu quả hoạt động của công ty cũng tăng lên rõ rệt. Thậm chí số lượng nhân viên ít hơn nhưng vẫn có thể xử lý đơn hàng một cách hiệu quả. Doanh thu của công ty đã tăng 3%, và năng suất tổng thể cũng tăng theo.

“Chúng tôi đang hoạt động hiệu quả hơn hẳn so với từ trước tới nay”, Kregg nói.

Cạnh tranh trên thị trường

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ có thể gây khó khăn cho các nhà phân phối nhỏ khi phải cạnh tranh với nhiều đối thủ quy mô hơn. Áp dụng công nghệ điện toán đám mây từ rất sớm là phương thức tuyệt vời nhất của LH Industrial Supplies để duy trì khả năng cạnh tranh.

Là một công ty nhỏ, việc có một chương trình phần mềm hàng đầu giúp chúng tôi cạnh tranh với các công ty lớn hơn trên thị trường” Kregg nói. “Chuyển sang đám mây với Prophet 21 sẽ giảm thiểu tối đa chi phí và áp lực trong việc duy trì máy chủ, cho phép chúng tôi tập trung hoàn toàn vào công việc. Giờ đây chúng tôi có thể truy cập hệ thống ở bất cứ nơi nào, công việc luôn được đảm bảo hiệu quả hơn.”

Nguồn: Epicor


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là Cloud Epicor ERP. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Vai trò ngành học toán - tin trong phát triển kinh tế số

Vai trò ngành học toán – tin trong phát triển kinh tế số

Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã nhấn mạnh vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đẩy mạnh kinh tế số, nhằm mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có việc phát huy vai trò của các trường đại học trong đào tạo, phát triển đội ngũ nguồn nhân lực chuyên ngành Toán – Tin trình độ cao.

Xu thế phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, kinh tế kỹ thuật số (còn gọi là kinh tế internet, kinh tế web, kinh tế mới) là nền kinh tế dựa trên các công nghệ kỹ thuật số. Kinh tế kỹ thuật số bao gồm các thị trường kinh tế dựa trên các công nghệ kỹ thuật số để tạo thuận lợi cho việc giao dịch, trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua thương mại điện tử. Theo nhóm cộng tác kinh tế số Oxford, kinh tế số là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số”, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng…) mà công nghệ số được áp dụng. Về đặc trưng, kinh tế số có thể được tập hợp trong 3 quá trình xử lý chính đan xen với nhau, bao gồm: Xử lý vật liệu, xử lý năng lượng, xử lý thông tin. Trong đó, xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng nhất và cũng là lĩnh vực dễ số hóa nhất.

Về bản chất, kinh tế số là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng công nghệ số. Theo các chuyên gia công nghệ, nhờ có nền kinh tế số mà hiệu suất kinh tế đạt được nhiều thành quả cao; các ngành công nghiệp có bước chuyển biến đột phá trong mô hình kinh doanh; hoạt động thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến trên các trang mạng xã hội (Facebook, Instagram), giải trí (Netflix, Pinterest), đến giao thông vận tải (Uber, Grab) đến phân phối, bán buôn và bán lẻ (Lazada, Shoppe)… đều phát triển. Ở tầm vĩ mô hơn, kinh tế số cũng có những đóng góp không nhỏ trong sự hội nhập của cộng đồng doanh nghiệp (DN) vào chuỗi công nghệ toàn cầu.

Trên thế giới, kinh tế số dần được phổ cập khi mật độ điện thoại thông minh đạt mức trên 50% vào cuối những năm 2000. Xu thế này được thúc đẩy mạnh mẽ hơn với sự xuất hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 vào cuối những năm 2010. Tại Việt Nam, trong 10 năm qua, kinh tế số đã phát triển không ngừng về cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường kinh doanh. Nghiên cứu của Google và Temasek (Singapore) cho biết, kinh tế số của Việt Nam đạt khoảng 3 tỷ USD năm 2015, tăng lên 9 tỷ USD năm 2018 và dự báo đạt 30 tỷ USD vào năm 2025. Trong khi đó, một nghiên cứu khác của Tổ chức Data 61 (Australia), GDP Việt Nam có thể tăng thêm khoảng 162 tỷ USD trong 20 năm nếu Việt Nam chuyển đổi số thành công.

Trên thế giới, kinh tế số dần được phổ cập khi mật độ điện thoại thông minh đạt mức trên 50% vào cuối những năm 2000. Xu thế này được thúc đẩy mạnh mẽ hơn với sự xuất hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 vào cuối những năm 2010. Tại Việt Nam, trong 10 năm qua, kinh tế số đã phát triển không ngừng về cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường kinh doanh.

Theo một nghiên cứu của Trung tâm Kinh doanh toàn cầu của Đại học Tufts (Mỹ), hiện nay Việt Nam đang đứng ở vị trí 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số hóa nhanh trên thế giới, đồng thời đứng ở vị trí 22 về tốc độ phát triển số hóa. Trong khi đó, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Việt Nam có 37% dân số sử dụng mạng xã hội (trong đó 73% có tương tác phục vụ công việc); người tiêu dùng số mới tăng trưởng đều đặn trung bình 63% mỗi năm; thời gian sử dụng Internet trung bình khoảng 4 giờ/ngày; giá trị giao dịch thiết bị công nghệ thông tin, viễn thông tăng đều đặn hằng năm… Điều này tạo nền tảng lý tưởng để đẩy mạnh hơn nữa các nỗ lực phát triển kinh tế số.

Vai trò của chuyên ngành Toán – Tin trong phát triển kinh tế số

Kinh tế số đang trở thành xu thế phát triển của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo các chuyên gia kinh tế, một trong những yêu cầu bắt buộc đặt ra đối với phát triển kinh tế số ở mỗi quốc gia là cần có nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu về công nghệ thông tin, đặc biệt được đào tạo sâu về chuyên ngành Toán – Tin. Thực tế cho thấy, các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới hiện nay như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức… đều có đội ngũ chuyên gia về Toán – Tin đông đảo, được đào tạo bài bản. Các trường đại học tại các quốc gia này cũng rất quan tâm và đầu tư cho việc đào tạo đội ngũ Toán – Tin để phục vụ yêu cầu công việc của thị trường tuyển dụng và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước. Đó cũng chính là lí do tại sao các quốc gia này lại sản sinh ra nhiều DN lớn, có quy mô và ảnh hưởng đến toàn cầu như Microsoft, Apple, Samsung…

Trong thời đại số và kinh tế số hiện nay, con người ngày càng ứng dụng rộng rãi các phương pháp toán học và khoa học máy tính vào nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật, y tế, bảo mật, quản lý, ra quyết định và thiết lập các hệ thống phức tạp… Chẳng hạn, trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, hệ thống giao dịch tiền điện tử, trong đó có hệ thống rút tiền tự động ATM sẽ không thể vận hành nếu thiếu các công cụ đảm bảo an toàn thông tin mà cốt lõi là các thuật toán mã hóa.

Trong lĩnh vực Viễn thông, mạng điện thoại được vận hành thông suốt là do đóng góp không nhỏ của thuật toán đơn hình giải các bài toán quy hoạch tuyến tính. Trong lĩnh vực Y tế, các máy chụp cắt lớp hiện đại sẽ không ra đời nếu không có phép biến đổi ngẫu nhiên cùng với các phương pháp giải phương trình với số biến khổng lồ… Bên cạnh đó, trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhờ Toán học, các tổ chức, DN có được các công cụ định lượng và định tính để phân tích một khối lượng dữ liệu khổng lồ (Big Data) qua đó có được cách tiếp cận khoa học và tìm ra lời giải cho các vấn đề của mình… Từ những ứng dụng thực tế đó, vai trò của Toán – Tin ngày càng được khẳng định quan trọng hơn bao giờ hết trong đời sống xã hội, đặc biệt trong phát triển kinh tế số.

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và khoa học công nghệ, vai trò của toán học và khoa học máy tính cũng như nhu cầu nhân lực ngành Toán -Tin ngày càng gia tăng. Theo một nghiên cứu xếp hạng 200 công việc ở Mỹ vào năm 2014, sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Toán – Tin có cơ hội tìm kiếm việc làm nhiều hơn các ngành khác, thậm chí có không ít công việc có thu nhập cao và môi trường làm việc tốt đều liên quan đến chuyên ngành Toán – Tin như: Ngành Toán chiếm vị trí số một, Thống kê chiếm vị trí thứ ba, thứ tư là Kiểm toán, Kĩ sư công nghệ phần mềm xếp thứ bảy, Quản trị hệ thống máy tính đứng thứ tám…

Trong thời gian qua, nhiều công ty được xây dựng trên cơ sở toán học, đặc biệt là các công ty cung cấp giải pháp công nghệ hoặc tài chính (chứng khoán, bảo hiểm…), đã mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Theo thống kê sơ bộ, sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Toán – Tin, sinh viên có thể tìm được việc làm tại các ngân hàng, trung tâm phân tích tài chính, cơ quan kiểm toán thống kê, các công ty tin học, cơ quan tài chính của Nhà nước (Tổng cục Thống kê, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, bảo hiểm…) hoặc các công ty tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, kế toán…). Ngoài ra, các kỹ sư, cử nhân Toán – Tin cũng có thể công tác trong nhiều ngành nghề có sử dụng kiến thức Toán học ứng dụng và Tin học như: Kỹ sư phần mềm, lập trình viên, chuyên viên nghiên cứu và phát triển (R&D), nhà phân tích hệ thống, chuyên gia tin học, chuyên viên phân tích, thống kê, chuyên viên dự báo, quản trị rủi ro, thẩm định đầu tư, định phí bảo hiểm, giảng viên đại học..

Để đáp ứng yêu cầu này của DN và xã hội, nhiều trường đại học trên thế giới đã mở các khoa toán ứng dụng và khoa học tính toán. Tại Việt Nam, ngày càng có nhiều trường đại học, trong đó có trường Đại học Tài chính Quản trị kinh doanh đã mở ra chuyên ngành Toán – Tin nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này phục vụ phát triển của đất nước.

Khảo sát tại các cơ sở đào tạo đại học có thể thấy những nét đặc trưng của chuyên ngành đào tạo Toán – Tin. Theo đó, sinh viên được trang bị kiến thức về cả hai mảng Tin học và Toán học ứng dụng, được rèn luyện tư duy logic, tư duy chiến lược, khả năng nhận thức, khả năng tổ chức và quản lý điều hành. Về Tin học, sinh viên được trang bị những kiến thức và kĩ năng thực hành để có thể đáp ứng được công việc của một kỹ sư phần mềm và lập trình viên. Về Toán học, sinh viên được trau dồi tư duy lôgic, được cung cấp các phương pháp, công cụ dùng để mô hình hóa và giải quyết các bài toán thực tiễn trong thống kê, phân tích, dự báo, mô phỏng… Cụ thể, sinh viên sẽ được trang bị kiến thức cơ bản và chuyên sâu về toán học, toán học ứng dụng như giải tích hàm, đại số đại cương, xác suất thống kê, các phương pháp tối ưu, toán tài chính, phương trình đạo hàm riêng, giải tích phức, điều khiển tối ưu, phân tích số liệu, mô hình mô phỏng các hệ sinh thái… Sinh viên cũng được cung cấp kiến thức và kỹ năng thực hành về khoa học máy tính như kỹ thuật lập trình, cơ sở dữ liệu, hệ điều hành, cấu trúc dữ liệu và giải thuật, phân tích và thiết kế hệ thống, mật mã, an toàn máy tính, đồ họa…

Một số vấn đề đặt ra

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và khoa học công nghệ, vai trò của toán học và khoa học máy tính cũng như nhu cầu nhân lực ngành Toán tin ngày càng tăng, vì vậy ngành học này đang trở thành một ngành xu thế trong tương lai.

Đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực Toán – Tin là yêu cầu bắt buộc khi mà cách thức xử lý mọi vấn đề trong cuộc sống hiện nay sẽ cần dựa vào công nghệ vi tính với các thuật toán, đặc biệt là khi công nghệ nhân tạo và tự động trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng nhiều. Trong bối cảnh đó, việc đào tạo chuyên ngành Toán – Tin tại các trường đại học nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế số cũng cần đặc biệt quan tâm đến các vấn đề sau:

Đối với cơ quan quản lý

Cần bám sát và triển khai thực hiện phát triển kinh tế số theo chủ trương, chính sách đề ra tại Nghị quyết số 52-NQ/TW, trong đó tập trung vào một số nội dung quan trọng như:

– Hoàn thiện các chính sách tài chính nhằm khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo; Có cơ chế khuyến khích và ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân, DN công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục và đào tạo, tạo ra sản phẩm phục vụ cho nền kinh tế số; Xây dựng một số trung tâm giáo dục, đào tạo xuất sắc về công nghệ theo hình thức hợp tác công – tư; Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút, sử dụng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao.

– Tập trung phát triển các ngành ưu tiên có mức độ sẵn sàng cao như: Công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông; an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính – ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp số; du lịch số; công nghiệp văn hóa số; y tế; giáo dục và đào tạo. Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho triển khai một số chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các công nghệ ưu tiên, trọng tâm là: Công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện tử, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, điện tử y sinh…

– Dựa trên chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế số, từ đó đưa ra các nhiệm vụ giải pháp để triển khai thực hiện, trong đó có giải pháp đẩy mạnh đào tạo chuyên ngành Toán – Tin tại các trường đại học hiện nay.

Đối với các cơ sở đào tạo đại học

-Các trường cần rà soát chương trình đào tạo, đưa vào các kiến thức về toán học, thống kê, công nghệ thông tin phù hợp với từng ngành học đảm bảo cho người học sau khi tốt nghiệp sẽ nhanh chóng thích ứng với công việc trong điều kiện của Cách mạng công nghiệp 4.0.

– Tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành Toán Tin thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, đổi mới và nâng cấp các kiến thức mới gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Quá trình đào tạo cần có lộ trình phù hợp, gắn với dự báo nhu cầu tuyển dụng của DN và từng giai đoạn của nền kinh tế số.

– Đẩy mạnh hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế với các trường đại học tại các quốc gia có nền kinh tế số phát triển để nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo tại các trường.

Đối với chương trình đào tạo

– Chương trình đào tạo cần gắn với thực tiễn cuộc sống, trong đó cần chú ý đến các xu hướng lớn trong nền kinh tế số.

– Chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên nhằm theo kịp nhu cầu phát triển cũng như xu thế sử dụng lao động của xã hội. Trong chương trình học, cần tạo điều kiện để sinh viên làm quen hoặc thậm chí là thành viên tham gia nghiên cứu khoa học dưới sự hướng dẫn của các thầy cô trong khuôn khổ một dự án, đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, cấp trường… Từ đó, sinh viên có thể trau dồi được khả năng tư duy sáng tạo độc lập, khả năng làm việc tập thể đa ngành và khả năng thích nghi tốt với các biến động, đổi mới liên tục của khoa học và công nghệ.

Đối với sinh viên

Thực tế cho thấy, việc tốt nghiệp chuyên ngành Toán – Tin giúp sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm được việc làm dễ dàng phù hợp với chuyên ngành học, đặc biệt các công việc liên quan đến tài chính – ngân hàng. Chẳng hạn, đối với chuyên viên phân tích đầu tư tại các công ty tài chính, bảo hiểm, chứng khoán hay ngân hàng, để thành công trong lĩnh vực này, phải có kiến thức toán học, khả năng đánh giá mức độ rủi ro và tính toán giá trị của các khoản đầu tư khác nhau cũng như kỹ năng phân tích các kết quả đã nghiên cứu. Hoặc như với chuyên viên phân tích ngân sách, khi các cơ quan chính phủ, các công ty nghiên cứu hoặc các tổ chức học thuật cần phải quyết định cách phân bổ kinh phí giữa các dự án khác nhau, họ thường tìm tới các nhà phân tích ngân sách. Các chuyên gia này phân tích các chi phí gắn liền với các đề xuất ngân sách khác nhau và xác định tác động tiềm năng của chúng đối với tình trạng tài chính tổng thể của một tổ chức để từ đó đưa ra các khuyến nghị tài trợ dựa trên những phát hiện của họ…

Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội việc làm liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng, yêu cầu đặt ra đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng khá cao. Theo đó, sinh viên phải có kiến thức cơ bản và chuyên sâu về Toán học, Toán học ứng dụng và Tin học để đáp ứng tốt các công việc đặc thù của liên ngành Toán – Tin và các ngành có liên quan như: Có khả năng mô tả, tính toán và mô phỏng quản lý các hệ thống, các quá trình công nghệ, xây dựng các phần mềm ứng dụng; Có khả năng nghiên cứu, phân tích và đưa ra giải pháp cho một số vấn đề trong kỹ thuật, kinh tế, tài chính; Có khả năng thiết lập cơ sở lý thuyết của vấn đề, mô hình hóa Toán học và tìm cách giải quyết vấn đề trong các lĩnh vực đa dạng và luôn biến đổi của thực tế…

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0;

2. Nhật Hồng (2018), Cần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành toán kinh tế trong trường đại học, báo Dân trí điện tử;

3. Phong Nguyễn (2019), Cách nào để kinh tế số chiếm trên 30% GDP?, Báo Lao động điện tử;

4. Trọng Đạt (2019), Chuyển đổi số và hiện trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam, Báo Vietnamnet điện tử;

5. Vị trí Việt Nam trong nền kinh tế số hóa toàn cầu?, Truy cập từ: https://idtvietnam.vn/vi/vi-tri-viet-nam-trong-nen-kinh-te-so-hoa-toan-cau-676.


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu về nhân sự IT chất lượng cao của nền kinh tế số, chúng tôi có chương trình tuyển dụng sinh, đào tạo trực tiếp các tài năng quan tâm đến ERP. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

xu hướng quản trị doanh nghiệp 2020

7 xu hướng quản trị doanh nghiệp đột phá trong năm 2020

Đón đầu ngay những xu hướng quản trị mới nhất trong năm 2020 để tạo lợi thế cạnh tranh vững chắc cho doanh nghiệp của bạn.

Bài toán phát triển và tăng trưởng lợi nhuận trong doanh nghiệp, về mặt lý thuyết, có hai cách tiếp cận điển hình: Thứ nhất, tìm cách bán ra nhiều sản phẩm/ dịch vụ hơn, và thứ hai, tối ưu hóa hoạt động quản trị doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí vận hành.

Tuy nhiên, với thị trường kinh doanh đang ngày một cạnh tranh như hiện nay, việc bạn cố gắng bán ra thật nhiều sản phẩm/ dịch vụ là vô cùng khó khăn. Thực tế, nội chỉ riêng việc giữ vững doanh số trước hàng trăm đối thủ, hàng nghìn sản phẩm đối chọi, đã là một vấn đề khiến nhiều người phải đau đầu suy nghĩ.

Bởi vậy, để tạo ra bánh đà phát triển cho doanh nghiệp, lý tưởng nhất, bạn hãy tìm kiếm lời giải cho bài toán tối ưu hoạt động vận hành trước tiên.

Đây là bài toán gần như không chịu tác động từ bất cứ sự cạnh tranh nào của đối thủ, nên việc làm chủ nó sẽ trở nên tương đối dễ thở. Hơn thế, lợi ích mà nó đem lại là cũng chẳng thể xem thường: Thử nghĩ xem, nếu bạn đang có 500,000 quy trình/ năm, thì với mỗi 2.000 đồng bạn tối ưu được/ quy trình, bạn đã tiết kiệm được 1 tỷ đồng/ năm – một con số không quá lớn với những doanh nghiệp tầm cỡ, nhưng cũng không hề nhỏ khi được sử dụng để đầu tư vào các chiến lược phát triển khác.

Nút thắt lớn nhất của bài toán này mà bạn phải đối mặt có lẽ chính là ở sự ra đời nhiều đến chóng mặt của những làn sóng, xu hướng quản trị vận hành mới – mà trên thực tế, không phải xu hướng nào cũng tốt, cũng hiệu quả.

Hiểu được điều này, Base Resources, sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, đã tổng hợp trong bài viết dưới đây những xu hướng quản trị vận hành nổi bật nhất trong năm 2020. Hi vọng, qua đây, bạn có thể lựa chọn cho mình hướng đi phù hợp để xô đổ những mục tiêu trong năm mới.

Phần lớn bộ phận nhân lực lao động hiện nay thuộc thế hệ Y (Millennials, sinh năm 1980 – 1995), đi làm không chỉ để kiếm tiền mà còn để thỏa mãn niềm đam mê và hướng tới sự cân bằng giữa công việc-cuộc sống. Cũng vì thế mà đội ngũ nhân viên này thường trở nên “kén chọn”, không dễ dàng bán rẻ chất xám và sức lao động của mình.

Rõ ràng, để nhận được sự phục vụ của lớp người lao động này, các chính sách phúc lợi và lương thưởng cũ kỹ là không đủ. Do đó, ngày càng nhiều các doanh nghiệp đang đầu tư mạnh mẽ hơn cho các chiến lược cải thiện trải nghiệm nhân viên (Employee Experience – EX), nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút ứng viên, cũng như khuyến khích họ ở lại với tổ chức của mình.

Trải nghiệm nhân viên chính là xu hướng hàng đầu mà doanh nghiệp cần nhắm tới trong năm 2020

Nhiều số liệu chỉ ra rằng, hoạt động cải thiện EX, ngoài việc đóng góp chung vào hiệu quả tuyển dụng, giữ chân nhân viên, còn có tác động vô cùng tích cực tới lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Jacob Morgan, tác giả của 2 cuốn sách nổi tiếng “The Future of Work” và “The Employee Experience Advantage”, những tổ chức tập trung đầu tư mạnh tay nhất vào việc nâng cao EX được:

• Liệt kê nhiều hơn 11,5 lần trong danh sách những công ty có môi trường làm việc tốt nhất trên Glassdoor.

• Xếp hạng cao hơn 4,4 lần trong danh sách những công ty được săn đón nhiều nhất trên Linkedin

• Thống kê có lợi nhuận cao gấp 4 lần và doanh thu cao gấp 2 lần số doanh nghiệp vẫn còn đang loay hoay chưa áp dụng một chiến lược nâng cao EX nào.

Đây là những con số ấn tượng, biến EX trở thành một trong những xu hướng sẽ được quan tâm nhất trong năm 2020.

Có lẽ không quá bất ngờ khi việc giao tiếp và cộng tác trên kênh điện thoại là xu hướng tiếp theo các doanh nghiệp nên để mắt tới trong năm 2020. Có thể nói, nếu các hoạt động vận hành và giao tiếp nội bộ của bạn chưa được tối ưu để sử dụng linh hoạt trên các kênh di động, thì doanh nghiệp của bạn đang đánh mất đi những lợi thế cạnh tranh rất quan trọng!

Ngoài việc là một trong những phương tiện giao tiếp, cộng tác phổ biến nhất trên thế giới với số lượng người dùng lên tới 5,11 tỉ người (2019), cách kênh giao tiếp linh hoạt trên điện thoại còn đem lại những lợi ích cho doanh nghiệp như:

Cải thiện trải nghiệm tổng thể của nhân viên về môi trường làm việc: Với việc cung cấp một kênh chia sẻ, kết nối và tiếp cận thông tin linh hoạt, nhanh chóng, nhân viên cũng sẽ dễ dàng công tác làm việc với nhau hơn, qua đó gia tăng mức độ hài lòng cũng như năng suất làm việc.

Tăng cường khả năng tiếp nhận và phản hồi theo theo thời gian thực: Các kênh giao tiếp di động, với tốc độ truyền tin nhanh chóng sẽ thay thế dần những giải pháp cũ kỹ như email, vốn được cho là thủ phạm gây rối loạn luồng thông tin làm việc bấy lâu nay.

Nâng cao khả năng truy cập và cộng tác làm việc cho nhân viên hoạt động trong những điều kiện đặc biệt: Đối với những nhân viên phải di chuyển thường xuyên hay trực tiếp tham gia vào các ngành nghề phục vụ/ dịch vụ, rõ ràng việc kè kè bên chiếc máy tính để cập nhật thông tin là bất khả thi. Vì vậy các kênh giao tiếp trên điện thoại sẽ là sự lựa chọn lý tưởng hơn để làm việc với những cá nhân này.

Với bối cảnh công nghệ phát triển, việc cộng tác linh hoạt trên các ứng dụng điện thoại là vô cùng cần thiết

Hiện nay, gần như tất cả các phần mềm quản lý công việc đều hỗ trợ trên nền tảng điện thoại, điều này khiến cho việc cộng tác càng trở nên dễ dàng, và giao tiếp qua điện thoại dần trở thành xu hướng không thể thay thế. Base Wework là một phần mềm phổ biến đang được nhiều doanh nghiệp lựa chọn để đón đầu xu thế này.

Có thể dễ dàng nhận thấy, các doanh nghiệp hiện nay đã và đang đang phụ thuộc rất nhiều vào xu hướng này: các ngành nghề sản xuất dần thay thế con người bằng những dây chuyền hiện đại, còn với mảng hoạt động dịch vụ, các công cụ đặt phòng trực tuyến hay chat bot tự động cũng đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết.

Với việc nhường lại cho máy móc xử lý các tác vụ phổ thông, mang tính chất lặp lại, doanh nghiệp sẽ giải phóng được thời gian cho nhân viên để tập trung vào những nhiệm vụ quan trọng hơn. Không còn tình trạng lãng phí thời gian, nhân lực cho những công việc thiếu phù hợp, hoạt động vận hành của doanh nghiệp sẽ từ đó trở nên trơn tru và hiệu quả hơn rất nhiều.

Tiếp tục xuất hiện trong năm 2020 như một mũi nhọn vận hành của các doanh nghiệp số kiểu mẫu, tự động hóa sẽ buộc phải có những bước chuyển mình mới mẻ để đảm bảo thích ứng được với những nhu cầu khắt khe của thị trường.

Công cụ tự động hóa cần phải có những bước chuyển mình mới trong năm 2020

Những “thượng đế” ngày nay đang trở nên khó tính hơn bao giờ hết, nên họ sẽ không thể tiếp nhận sản phẩm/ dịch vụ của một cách dễ dàng nữa. Mọi trải nghiệm, mọi điểm chạm tương tác giữa họ và doanh nghiệp giờ đây đều quan trọng. Và nếu như chúng không được cá nhân hóa đến độ chín nhất định, thì xin chia buồn, sản phẩm/ dịch vụ của bạn sẽ chỉ mãi nằm gọn trong “kho” mà thôi!

Bởi vậy, không chỉ dừng lại ở tốc độ giải quyết các tác vụ nữa, trong năm tới, các công cụ, kênh tự động hóa phải đảm bảo được yếu tố cá nhân hóa trải nghiệm và nội dung tương tác với khách hàng. Dĩ nhiên, đây là nhiệm vụ không hề dễ dàng, nhưng với sự giúp sức của các công nghệ tân tiến như AI hay Machine Learning, doanh nghiệp đang có những trợ thủ đắc lực và không ít cơ hội để chung tay phát triển.

Trong thực tiễn hoạt động quản trị, đôi khi các cấp lãnh đạo không hề nắm bắt được những hoạt động, công việc đang trực tiếp được tiến hành từ phía nhân viên. Do vậy, những quyết định của họ đôi phần sẽ trở nên thiếu phù hợp khi được đưa vào thực tiễn vận hành.

Do đó, ngoài việc phân tích những chỉ số liên quan tới quản trị hay kinh doanh thông thường, việc thu thập ý kiến phản hồi từ nhân viên để phát hiện những điểm nóng đang trực tiếp diễn ra cũng là xu hướng các nhà quản lý cần chú ý trong năm 2020.

Không chỉ là hình thức quản trị rủi ro nhãn tiền hiệu quả, việc thu thập phản hồi của nhân viên còn để lại những tác động vô cùng tích cực tới sự gắn kết của nhân viên với doanh nghiệp. Với việc tự do ngôn luận, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình trong nội bộ tổ chức, nhân viên sẽ cảm thấy được tin tưởng và trân trọng hơn rất nhiều, qua đó gắn kết hơn với tập thể.

Kết quả đánh giá hiệu suất nhân viên chính là nền tảng vững chắc để doanh nghiệp xây dựng những kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn lực con người hiệu quả, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động vận hành.

Vậy nhưng, hiện có tới 90% các nhà quản lý đều đang thừa nhận hoạt động đánh giá nhân viên hiện tại của tổ chức họ không phản ánh được chính xác hiệu suất làm việc của người lao động.

Vấn nạn này xảy ra, khi trong quá trình đánh giá nhân viên, nhà quản lý thường mắc phải 5 sai lầm phổ biến sau: đánh giá nhân viên một chiều, không nắm được nhân viên đang làm gì, thiếu tiêu chí đánh giá minh bạch, không đánh giá bao quát nhân viên trong thời gian dài, truyền đạt kết quả đánh giá theo cách tiêu cực. Những sai lầm đó dẫn tới việc sai lệch kết quả đánh giá, về lâu dài dễ nảy sinh mâu thuẫn nội bộ.

Để thoát khỏi những sai lầm phổ biến này, đồng thời triển khai những hoạt động đánh giá hiệu quả hơn, việc tiếp cận và phân tích hiệu suất làm việc của nhân viên dựa trên dữ liệu là vô cùng cần thiết. Với dữ liệu, và hoàn toàn chỉ dữ liệu, bạn hoàn toàn có thể loại bỏ những biến số sai lệch từ những định kiến sai lầm phổ biến, nhờ vậy có những phép đo và phân tích kết quả làm việc toàn diện, chính xác hơn nhiều lần.

Hoạt động đánh giá nhân viên giờ đây cần phải được hoàn toàn tuân thủ theo dữ liệu

Xu hướng này sẽ ngày càng được củng cố vững chắc trong năm 2020, khi không ít những phần mềm cộng tác, quản lý công việc đã ra đời để hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy văn hóa làm việc dựa trên số liệu. Không chỉ kho lưu trữ công việc minh bạch, các công cụ hiện đại còn là những kênh tham chiếu tuyệt vời để đánh giá nhân viên qua các tính năng nhắc việc, tổng hợp và báo cáo kết quả mạnh mẽ.

Thói quen chi tiêu của người tiêu dùng ngày càng trở nên khó lường, thị trường sản phẩm/ dịch vụ cũng trở nên biến động hơn bao giờ hết. Doanh nghiệp nhiều lúc sẽ phải đối diện với 2 tình thế:

Quá nhiều mặt hàng tồn kho sẽ gây ra vấn đề nghiêm trọng tới dòng tiền trong doanh nghiệp. Nhưng ở một chiều hướng khác, việc dự trữ thiếu hụt so với nguồn nhu cầu thực tế cũng là một trở ngại lớn ảnh hưởng trực tiếp lên các hoạt động kinh doanh của tổ chức.

Vậy nên, trong năm 2020, hoạt động quản trị vận hành sẽ tiếp tục tập trung vào việc phát triển các chuỗi cung ứng đáp ứng được những yêu cầu “khó chiều” của nền kinh tế. Chúng phải đảm bảo được việc sản xuất ổn định, tuy nhiên cũng đồng thời có khả năng ứng biến linh hoạt, thay đổi kịp thời theo chiều hướng tiêu dùng của khách hàng và thị trường.

Vai trò của các giám đốc vận hành trong năm 2020 sẽ trở nên đặc biệt hơn rất nhiều: Họ cần phải hiểu rõ những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh của tổ chức, từ đó đưa ra những phương án kiểm soát chúng để tạo lợi thế cho doanh nghiệp.

Câu chuyện lúc này sẽ không chỉ dừng lại ở việc quản lý, tối ưu hóa các hoạt động, chi phí vận hành trong doanh nghiệp nữa. Mà đã nói đến kinh doanh, chúng ta không thể nào không nhắc tới khách hàng. Nhiệm vụ của người làm quản trị giờ đây sẽ phải gắn liền với người tiêu dùng, soi chiếu thêm vào các tác vụ bên lề như kiểm soát chất lượng sản phẩm, thời gian vận chuyển hay dịch vụ chăm sóc, hậu mãi.

Rõ ràng, với những kiến thức chuyên môn vốn chỉ được gói gọn trong các việc kiểm soát các hoạt động trong tổ chức, nhiệm vụ mới mẻ này sẽ là một thách thức lớn với những giám đốc vận hành. Vậy nên, họ sẽ cần phải cộng tác chặt chẽ, liên chức năng nhiều hơn với các cấp lãnh đạo và phòng ban chuyên sâu, qua đó mới có thể đưa ra những quyết định làm việc chính xác.

Cấu trúc làm việc gọn nhẹ, cộng tác liên chức năng chính là xu hướng vận hành các doanh nghiệp cần lưu tâm

Với những mô hình làm việc cổ điển, phân tầng nhiều cấp bậc, hoạt động cộng tác sẽ trở nên khó khăn và thiếu hiệu quả hơn rất nhiều. Việc cải tiến, và làm việc theo những cấu trúc cấp tiến, hiện đại hơn gần như là bắt buộc nếu các nhà quản lý muốn tận dụng được sức mạnh của cả tập thể.

Tạm kết

Cách thức quản trị doanh nghiệp không ngừng phát triển và đổi mới. Sự thay đổi này là điều tất yếu bởi các yếu tố công nghệ, nguồn lực lao động cũng đang có những bước tiến vô cùng mạnh mẽ và khó lường. Nếu doanh nghiệp không có hình thức quản trị đáp ứng nhu cầu của những sự biến đổi này,, sớm hay muộn, họ cũng sẽ lạc lối và dần biến mất khỏi thị trường.

Hi vọng, với 7 xu hướng quản trị trong năm 2020 được tổng hợp và đề cập trong bài viết, bạn sẽ có thêm những thông tin tham khảo và tuyệt vời hơn, là áp dụng một trong số đó để cải thiện chính việc vận hành hoạt động trong tổ chức.

Nguồn: Kiều Anh


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình, đi kèm với chức năng quản lý nhân sự tiện ích. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Chính quyền điện tử TPHCM: Lấy người dân làm trung tâm phục vụ

Chính quyền điện tử TPHCM: Lấy người dân làm trung tâm phục vụ

TPHCM đang nỗ lực xây dựng Chính quyền điện tử, tập trung ứng dụng công nghệ thông tin, tạo chuyển biến ngay trong chính nội bộ các cơ quan nhà nước cũng như trong việc cung cấp dịch vụ công tới người dân, doanh nghiệp. Sau hơn một năm thực hiện Kiến trúc Chính quyền điện tử TPHCM, kết quả bước đầu cho thấy nhiều dấu ấn trong sự kết nối ngày càng tiện lợi giữa người dân và chính quyền.

Từ dịch vụ công trực tuyến đến các tiện ích cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp

Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong

Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong

Qua một năm triển khai Kiến trúc Chính quyền điện tử, đồng thời với thực hiện chủ đề năm 2019 về đột phá cải cách hành chính, TPHCM đã có bước đột phá nhất định trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến và một cửa điện tử. Hiện nay, TPHCM cung cấp 1.070 dịch vụ công trực tuyến (mức độ 3: 826 dịch vụ; mức độ 4: 244 dịch vụ). Các sở – ban – ngành, UBND quận – huyện đã triển khai hệ thống một cửa điện tử, ISO điện tử giúp lãnh đạo hoàn toàn có thể giám sát được tình trạng xử lý hồ sơ của đơn vị, biết được nguyên nhân trễ hạn thông qua báo cáo tổng hợp tự động qua phần mềm và tin nhắn. TPHCM cũng đã triển khai hệ thống một cửa điện tử quản lý hồ sơ đất đai tại Trung tâm dữ liệu của TPHCM.

Trong nhiều ngành, lĩnh vực cụ thể, nhiều thông tin đã được cung cấp cho người dân thông qua cổng thông tin hoặc ứng dụng trên điện thoại di động. Cụ thể như: Trong lĩnh vực giao thông, cổng thông tin giao thông cung cấp trực tuyến cho người dân các thông tin liên quan về tình hình giao thông, các tiện ích trong quá trình tham gia giao thông theo thời gian thực. Ở lĩnh vực giáo dục, TPHCM triển khai Cổng thông tin điện tử ngành giáo dục với hơn 1.660 website thành viên của các đơn vị giáo dục. TPHCM đã thử nghiệm Cổng thông tin công khai các dịch vụ giáo dục. Trong lĩnh vực y tế, TPHCM triển khai Cổng thông tin của ngành y tế, cung cấp nhiều chuyên mục thuộc các lĩnh vực khám chữa bệnh, y tế dự phòng, cải cách hành chính; người dân có thể tra cứu trực tuyến về giấy phép, phạm vi hoạt động chuyên môn của cá nhân người hành nghề và cơ sở y tế. Trong lĩnh vực chống ngập nước, thành phố đã triển khai Cổng thông tin Hệ thống thoát nước thành phố. Qua đây, người dân có đầy đủ các thông tin về ngập lụt, khí tượng thủy văn… nhằm giúp chủ động ứng phó để giảm nhẹ thiệt hại do ngập lụt gây ra. Ở lĩnh vực quy hoạch, TPHCM triển khai ứng dụng Thông tin quy hoạch TPHCM, trong đó đã cung cấp dưới dạng bản đồ hình ảnh các thông tin quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, quy hoạch cao độ nền với quy mô trên toàn địa bàn thành phố, cung cấp dưới dạng dữ liệu số các thông tin quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, quy hoạch cao độ nền tại khu vực trung tâm hiện hữu thành phố (930ha), Thủ Thiêm, quận 12 và quận Thủ Đức.

Các mô hình quận, huyện trực tuyến, Cổng thông tin tiếp nhận và giải đáp thông tin cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp (1022) được triển khai rộng rãi cũng đã mang lại sự thuận lợi cho sự tương tác giữa người dân, tổ chức với các cơ quan nhà nước, cũng như tạo điều kiện tốt hơn để người dân, tổ chức tham gia giám sát, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính quyền.

Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong trao giải thưởng sáng tạo TPHCM năm 2019

Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong trao giải thưởng sáng tạo TPHCM năm 2019. Ảnh: VIỆT DŨNG

Thực hiện quá trình chuyển đổi số để hướng đến chính quyền số

Kiến trúc Chính quyền điện tử thành phố đóng vai trò định hướng và đồng bộ hóa các ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố. Cấu phần quan trọng trong Kiến trúc chính quyền điện tử là nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu dùng chung – nền tảng quan trọng để đảm bảo tích hợp, liên thông các hệ thống thông tin ở TPHCM. Từ đó, phát huy trách nhiệm và tính chủ động của thủ trưởng các sở, ngành, chủ tịch UBND quận, huyện trong việc triển khai xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Trong thực hiện Kiến trúc Chính quyền điện tử TPHCM, Chính quyền TPHCM tập trung chuyển đổi mạnh mẽ trạng thái ứng dụng CNTT của bộ máy chính quyền thành phố, đáp ứng các mục tiêu chiến lược của một đô thị thông minh. Quá trình chuyển đổi thực hiện từng bước để đến năm 2025, TPHCM đồng bộ, liên thông cho các hệ thống thông tin, khai thác tối đa công nghệ mới và nguồn lực xã hội để phục vụ cho phát triển, phục vụ cho người dân và doanh nghiệp. Thành phố phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo của người đứng đầu trong triển khai xây dựng chính quyền điện tử nhưng vẫn đảm bảo tính đồng bộ, liên thông, kết nối của hệ thống…

Chặng đường xây dựng Chính quyền điện tử TPHCM còn tiếp tục đến năm 2025 với rất nhiều công việc phải tập trung thực hiện. Trước mắt, trong năm 2020, TPHCM tập trung hoàn thiện thể chế, nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo Kiến trúc Chính quyền điện tử TPHCM, thực hiện nhanh quá trình chuyển đổi số để xây dựng chính quyền số.

Để chuẩn bị cho các nhiệm vụ trọng tâm nêu trên, TPHCM vừa ban hành Quy chế tích hợp và vận hành Kho dữ liệu dùng chung để tạo hành lang pháp lý tích hợp các cơ sở dữ liệu hiện có của thành phố về Kho dữ liệu dùng chung; đồng thời, nghiên cứu xây dựng phương án kết nối cơ sở dữ liệu hiện có của thành phố với cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành. Việc tổ chức khai thác Kho dữ liệu dùng chung nhằm phục vụ công tác quản lý, điều hành của thành phố, đồng thời cung cấp các tiện ích khai thác dữ liệu hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.

Một thông điệp chắc chắn rằng, dữ liệu dùng chung là nguồn lực, là tài sản quý giá của thành phố. Chính quyền TPHCM sẵn sàng mở ra các kênh chia sẻ dữ liệu, thông tin giúp người dân và doanh nghiệp sử dụng hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng. Bằng cách tích hợp và sẻ chia dữ liệu dùng chung, chúng ta cùng tiếp cận, khai thác để phát huy thế mạnh và cùng đóng góp cho sự phát triển của TPHCM.

Thực hiện Kiến trúc Chính quyền điện tử trên địa bàn TPHCM gắn bó chặt chẽ với xây dựng TPHCM trở thành đô thị thông minh, TPHCM triển khai một cách thống nhất và đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, nhằm thực hiện quá trình chuyển đổi số, hướng đến xây dựng chính quyền số và đáp ứng các mục tiêu chiến lược của TPHCM về phát triển thành một đô thị thông minh. Qua đó, hỗ trợ hiệu quả các chương trình đột phá của thành phố, đặc biệt là chương trình cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Xuyên suốt hành trình triển khai thực hiện chính quyền điện tử, TPHCM không ngừng đột phá cải cách hành chính nhằm chạm đến trái tim người dân, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp là thước đo cho hiệu quả của việc thực hiện. Trong từng lộ trình, việc triển khai xây dựng Chính quyền điện tử TPHCM cũng đều nhất quán lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; việc cải tiến quy trình nghiệp vụ của các cơ quan nhà nước cho liên thông với nhau cũng xuất phát từ mục tiêu cuối cùng là để phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách tốt nhất.

Một số tiện ích cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp:

– Hệ thống một cửa điện tử quản lý hồ sơ đất đai: https://motcuadatdai.tphcm.gov.vn

– Cổng thông tin tiếp nhận và giải đáp thông tin (1022): https://1022.tphcm.gov.vn

– Cổng thông tin giao thông: http://giaothong.hochiminhcity.gov.vn

– Cổng thông tin điện tử ngành giáo dục: http://dichvugiaoduc.hcm.edu.vn

– Cổng thông tin Hệ thống thoát nước: https://chongngap.hochiminhcity.gov.vn

– Cổng thông tin quy hoạch: https://thongtinquyhoach.hochiminhcity.gov.vn

– Các ứng dụng tương tác trực tuyến giữa người dân và UBND quận, huyện

Nguồn: Ông Nguyễn Thành Phong

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TPHCM


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Cùng hưởng ứng cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 trên toàn thế giới, chúng tôi hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Phát triển kiểm toán trong Cách mạng công nghiệp 4.0

Phát triển ngành Kiểm toán trong Cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã, đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế – xã hội, trong đó có ngành Kiểm toán Việt Nam. Trước những cơ hội và thách thức mà cuộc cách mạng này mang lại, ngành Kiểm toán đã có những biện pháp nhất định để thích ứng với những yêu cầu mới.

Tuy nhiên, để ngành Kiểm toán phát triển hiệu quả, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp cùng với sự phối kết hợp và quyết tâm trong toàn Ngành.

Thực trạng phát triển ngành kiểm toán Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Những thuận lợi

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) với sức ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu đã có nhiều tác động đến ngành Kiểm toán Việt Nam. Những tác động này thể hiện trên nhiều mặt như: Phương thức thực hiện kiểm toán, vấn đề an ninh an toàn bảo mật, yêu cầu công việc của cán bộ, nhân viên kiểm toán và cả những yếu tố liên quan đến đối tượng, phạm vi, quy mô kiểm toán…

CMCN 4.0 mang đến cho ngành Kiểm toán rất nhiều cơ hội và lợi ích. Cụ thể:

– Mang đến cơ hội cho ngành Kiểm toán trong việc ứng dụng phương thức kiểm toán hiện đại bằng việc áp dụng chứng từ điện tử, các phần mềm tổng hợp, xử lý dữ liệu kiểm toán. Những thành tựu của khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại cho phép thực hiện các phương thức kiểm toán trong môi trường tin học hóa. Nhờ đó, các hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán được thực hiện một cách đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả.

– Với sự phát triển mạnh mẽ của CMCN 4.0, các công ty kiểm toán có nhiều cơ hội tiếp cận và mở rộng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ kiểm toán phù hợp với các loại đối tượng khách hàng khác nhau. Các cơ quan quản lý nhà nước và các hiệp hội nghề nghiệp có cơ hội tiếp cận với các mô hình hoạt động kiểm toán hiệu quả từ các nước phát triển trên thế giới, từ đó, góp phần nâng cao năng lực quản trị, quản lý, đồng thời góp phần giúp Nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp lý, chuẩn mực, đáp ứng yêu cầu quốc tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm quen với các thông lệ chung của hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

– Việc xây dựng được những trung tâm dữ liệu lớn giúp cho khoa học phân tích và quản lý dữ liệu trong lĩnh vực kiểm toán ngày càng có nhiều thuận lợi. Việc thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu lớn sẽ tạo ra những tri thức mới, hỗ trợ việc đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả, từ đó góp phần giảm chi phí, tạo lợi thế cạnh tranh cho các công ty kiểm toán. Thay vì phải thu thập thông tin theo hình thức thủ công như trước đây, các kiểm toán viên có thể trích xuất dữ liệu từ kho dữ liệu của Ngành, phục vụ cho tất cả các loại quyết định, các cấp lãnh đạo, tất cả các loại trạm kiểm soát thông tin ra quyết định và tất cả những người có lợi ích liên quan, qua đó nâng cao độ tin cậy và hợp lý của việc báo cáo thông qua việc tự kiểm soát hoặc các hệ thống tự kiểm.

– Những tiến bộ từ cuộc cách mạng số là động lực giúp các công ty kiểm toán trong nước phát triển và cạnh tranh với các công ty, tập đoàn tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong điều kiện nắm bắt và thay đổi kịp thời để thích nghi với công nghệ mới. Các công ty kiểm toán trong nước có thể tận dụng điểm mạnh về năng lực tài chính, đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ, kết hợp với tính minh bạch hóa về tài chính, nhu cầu của khách hàng để phát triển đa dạng các sản phẩm trong quá trình tiến hành dịch vụ kiểm toán.

– Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, mạng máy tính kết nối các thị trường tài chính trên toàn cầu thành một thị trường thống nhất và hoạt động liên tục. Điều này góp phần khắc phục những trở ngại về thời gian và không gian, tiết kiệm thời gian, công sức cũng như không bị giới hạn bởi không gian, khoảng cách địa lý, tiếp cận gần hơn với hệ thống kiểm toán quốc tế.

– Cuộc CMCN 4.0 tác động đến nhận thức và hành động của cán bộ, nhân viên hành nghề kiểm toán đặt ra yêu cầu đối với mỗi cá nhân phải nỗ lực học tập, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, ứng dụng những tiến bộ về kỹ thuật trong công tác chuyên môn để nâng cao năng suất lao động và chất lượng công việc. Đồng thời, cán bộ, nhân viên hành nghề kiểm toán phải thường xuyên cập nhật thông tin, văn bản mới để thích ứng với bối cảnh mới.

Thách thức đặt ra

CMCN 4.0 tạo ra nhiều cơ hội cho ngành Kiểm toán Việt Nam nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Một số thách thức lớn đối với ngành Kiểm toán gồm:

– Cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kiểm toán thích ứng với bối cảnh CMCN 4.0. Cơ quan quản lý nhà nước cũng phải đối diện với không ít thách thức liên quan đến kiểm soát về chất lượng kiểm toán, việc tuân thủ pháp luật và quy chế kiểm toán, xử lý các bất đồng và tranh chấp về kết quả kiểm toán trong hoạt động của các tổ chức kiểm toán nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam, các chuyên gia trình độ cao làm việc tại Việt Nam. Về mặt cơ sở pháp lý của kiểm toán Việt Nam, có những chuẩn mực, nội dung chưa thể thay đổi theo thông lệ quốc tế, do đó cần có thời gian và lộ trình để thay đổi.

– Nâng cao về số lượng, chất lượng cán bộ, nhân viên hành nghề kiểm toán. Tại Việt Nam, công tác kiểm toán hiện nay chủ yếu được thực hiện trên hồ sơ, giấy tờ. Trong khi đó, CMCN 4.0 lại chuyển hóa toàn bộ các dữ liệu đó thành thông tin điện tử, vừa đa dạng, vừa khó nắm bắt. Vì vậy, nếu kiểm toán viên không am hiểu về công nghệ, sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện các công việc chuyên môn. Để giải quyết những hạn chế về trình độ, năng lực của cán bộ, nhân viên và sắp xếp công việc hợp lý cho nhân viên là một bài toán không hề dễ đối với ngành Kiểm toán trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.

– CMCN 4.0 mang đến cho ngành Kiểm toán những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phòng ngừa rủi ro an ninh mạng và bảo vệ bí mật thông tin. Tính bảo mật của thông tin là một vấn đề quan trọng trong ngành Kiểm toán. Tính bảo mật đặt ra yêu cầu cần phải có các biện pháp hiệu quả nhằm bảo vệ các phần mềm, phần cứng và dữ liệu của doanh nghiệp và các khách hàng kiểm toán.

– Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 và hội nhập kinh tế quốc tế, sức ép cạnh tranh về thị trường kiểm toán sẽ khốc liệt hơn khi có các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài. Nếu không tự hoàn thiện, các doanh nghiệp kiểm toán trong nước sẽ đứng trước nguy cơ phá sản, giải thể, hoặc thu hẹp quy mô, phạm vi hoạt động.

– Một thách thức lớn đối với ngành Kiểm toán là việc đầu tư phát triển trang thiết bị để thích ứng với tiến bộ khoa học công nghệ số. Đầu tư cho các thiết bị công nghệ sẽ mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên chi phí đầu tư là vấn đề đáng quan tâm của toàn ngành.

Ngành Kiểm toán thích ứng như thế nào trước cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0?

Để thích ứng với những thay đổi từ cuộc CMCN 4.0, thời gian qua, ngành Kiểm toán Việt Nam đã có những thay đổi tích cực để phù hợp với yêu cầu mới. Hiện nay, thị trường dịch vụ kiểm toán Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Khung khổ pháp lý trong lĩnh vực kiểm toán được hình thành tương đối đầy đủ, rõ ràng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam cũng như tiếp cận với thông lệ quốc tế. Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về kế toán, kiểm toán.

Cụ thể, Việt Nam đã ban hành Luật Kiểm toán độc lập (2011), Luật Kế toán sửa đổi (2015) với tư tưởng nội dung chứa đựng những vấn đề của kế toán, kiểm toán trong điều kiện hội nhập. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 phê duyệt “Chiến lược Kế toán – Kiểm toán Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến 2030”. Bộ Tài chính đã xây dựng Kế hoạch hành động về triển khai ứng dụng công nghệ của CMCN 4.0 trong lĩnh vực tài chính – ngân sách, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Cục Quản lý giám sát kế toán, kiểm toán đã phối hợp với các hội nghề nghiệp quốc tế và trong nước (ACCA, ICAEW, VAA) tổ chức một số cuộc hội thảo về chủ đề liên quan.

Năm 2018, Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành 6 đề cương hướng dẫn kiểm toán và triển khai kiểm toán các lĩnh vực mới như: Công tác quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng; quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA; công tác mua sắm, quản lý, sử dụng thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế và hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ngành y tế; các chính sách ưu đãi đầu tư tại các khu kinh tế… Ngày 09/4/2018, Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành Chỉ thị số 735/CT-KTNN về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của kiểm toán nhà nước nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo điều hành cũng như hoạt động kiểm toán.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang tập trung triển khai Chiến lược phát triển Kế toán – Kiểm toán Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 với mục tiêu: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán trên cơ sở thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam; Phát triển mạnh nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán đảm bảo ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực cả về số lượng và chất lượng, được thừa nhận của quốc tế; Tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về kế toán, kiểm toán, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp, nhằm thúc đẩy và hỗ trợ phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán tại Việt Nam…

Giải pháp phát triển ngành Kiểm toán Việt Nam trong bối cảnh mới

Trước những cơ hội và thách thức mà cuộc CMCN 4.0 đặt ra, ngành Kiểm toán Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên hành nghề kiểm toán, làm cho họ hiểu rõ tầm quan trọng, ảnh hưởng của cuộc cách mạng số đến ngành Kiểm toán Việt Nam. Từ đó, mỗi cá nhân chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ khoa học công nghệ để thích ứng với những yêu cầu mới của thời đại 4.0.

Hai là, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành Kiểm toán, trong đó chú trọng đổi mới và tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao; tăng khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên đủ năng lực, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu của ngành, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với khu vực và thế giới.

Ba là, chú trọng đầu tư, hoàn thiện kết cấu cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, hiện đại, tự động hóa hầu hết các quy trình kiểm toán, phát triển dịch vụ kiểm toán thông qua ứng dụng công nghệ số dựa vào nền tảng công nghệ tự động hóa, kết nối đa chiều và thông minh hóa của cách mạng số.

Bốn là, xây dựng chiến lược phát triển ngành Kiểm toán trong cả ngắn hạn và dài hạn. Chiến lược được xây dựng căn cứ vào thực trạng ngành Kiểm toán và những vấn đề do CMCN 4.0 đặt ra; Tập trung phát triển Kiểm toán Nhà nước hiện đại, tiên tiến, có mô hình tổ chức hợp lý, phát huy vai trò điều hành, định hướng, quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống kiểm toán, đảm bảo ngành Kiểm toán vận hành đồng bộ, hoạt động có hiệu quả, chất lượng, phù hợp với cơ chế thị trường và thích ứng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật của cuộc CMCN 4.0.

Năm là, chú trọng đến vấn đề an ninh mạng. Các doanh nghiệp kiểm toán cần đầu tư, trang bị các giải pháp về an ninh, bảo mật, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về an ninh, bảo mật; phát hiện và xử lý kịp thời những lỗ hổng về bảo mật; bảo đảm bí mật thông tin khách hàng.

Sáu là, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động, dịch vụ và sản phẩm kiểm toán mới được hình thành trong bối cảnh CMCN 4.0; xây dựng cơ chế quản lý giám sát phù hợp với bối cảnh Việt Nam và các chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

Bảy là, tăng cường đổi mới đào tạo và nghiên cứu khoa học kế toán, kiểm toán trong bối cảnh CMCN 4.0; Đổi mới đào tạo và nghiên cứu khoa học kế toán, kiểm toán một cách toàn diện, từ đổi mới nhận thức, đổi mới mục tiêu đào tạo, cách tiếp cận, chương trình và phương pháp đào tạo.


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Khác với các phần mềm quốc tế khác, giải pháp của Data V Tech đã được Việt hoá cho phù hợp với hệ thống quy định pháp luật Việt Nam. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Tp. Hồ Chí Minh phát triển đô thị thông minh

Đô thị thông minh – hướng phát triển bền vững cho Tp. Hồ Chí Minh

Tp. Hồ Chí Minh đã và đang triển khai mạnh mẽ các nội dung nhằm giúp việc điều hành thuận lợi hơn, tháo gỡ những tồn tại trong phát triển trở thành đô thị thông minh.

Với Đề án “Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025”, Tp. Hồ Chí Minh đã và đang triển khai mạnh mẽ các nội dung nhằm giúp việc điều hành thuận lợi hơn, tháo gỡ những tồn tại trong phát triển. Những kết quả ban đầu đã được hình thành từ đề án, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng tới phục vụ tốt hơn cho người dân, thúc đẩy thành phố phát triển bền vững hơn.

Một góc TP HCM 2020

Một góc TP HCM hiện nay – Ảnh: An Hiếu

* Những “mô hình mẫu”

Theo Sở Thông tin và Truyền thông Tp. Hồ Chí Minh, sau hai năm triển khai, thành phố đã đạt được một số kết quả trong giai đoạn 1 của 4 trụ cột thuộc đề án, bao gồm xây dựng Kho dữ liệu dùng chung và phát triển hệ sinh thái dữ liệu mở; xây dựng Trung tâm điều hành đô thị thông minh; Trung tâm mô phỏng và dự báo kinh tế – xã hội; thành lập Trung tâm an toàn thông tin.

Cùng với đó, thành phố đã ban hành và tổ chức triển khai chính quyền điện tử. Đây là “khung nền tảng”, làm cơ sở triển khai cho các đơn vị. Thực tế, một số sở, ngành, địa phương của thành phố đã nhanh chóng nắm bắt xu hướng phát triển và định hướng của thành phố để ứng dụng vào thực tiễn.

Chủ tịch UBND Tp. Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong cho biết, dù mới triển khai xây dựng đô thị thông minh, nhưng người dân Thành phố đã bắt đầu được hưởng các tiện ích mang lại. Các đơn vị đã cung cấp một số tiện ích cho người dân như: cảnh báo ngập, tra cứu thông tin quy hoạch, tra cứu tình hình giao thông qua camera, đăng ký khám bệnh và tự tra cứu giá dịch vụ, giá thuốc tại một số bệnh viện… Điều này giúp người dân có được những trải nghiệm mới khi sử dụng các ứng dụng thông minh.
Chỉ với một màn hình trong phòng làm việc hoặc thiết bị di động được kết nối internet, quản lý của đơn vị có thể theo dõi, giám sát các hoạt động toàn khu vực, với những ứng dụng thông minh… Mô hình này được Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC) triển khai khoảng một năm nay và mang lại hiệu quả trong quản lý và giá trị kinh tế. Đó là thành quả từ ứng dụng “Hệ thống giám sát điều hành Công viên Phần mềm Quang Trung”, được tích hợp từ nhiều phân hệ khác nhau trong nội khu.

Với hơn 20.000 người đang sinh sống, học tập, hiện QTSC được xem như một đơn vị hành chính thu nhỏ và là “mô hình mẫu” về đô thị thông minh của thành phố. Khu phần mềm này có đầy đủ yếu tố của một khu dân cư thu nhỏ với nhà ở, biệt thự, chung cư, nhà hàng, hệ thống các trường học, trạm y tế, cộng đồng doanh nghiệp, các trung tâm vui chơi, giải trí…

Theo ông Lâm Nguyễn Hải Long, Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Phát triển Phần mềm Quang Trung, QTSC được xem như mô hình tiên phong, là phiên bản thử nghiệm cho đô thị thông minh và sẵn sàng chia sẻ với Tp. Hồ Chí Minh. Hi vọng hệ thống này có thể triển khai rộng rãi, chia sẻ với cộng đồng cho phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam. Tuy vậy, việc triển khai không đơn giản, mà phải trên nền tảng sẵn có về công nghệ và có đủ chuyên môn, năng lực vận hành hệ thống.

Trong Đề án đô thị thông minh, Tp. Hồ Chí Minh đã chọn thực hiện thí điểm tại Quận 1 và Quận 12, đến nay cũng đã cho ra những “sản phẩm” cụ thể, góp phần định hình “mô hình thông minh” tại địa phương. Hiện Quận 1 đã triển khai thí điểm Trung tâm điều hành đô thị thông minh đặt tại trụ sở UBND Quận 1.

Bà Nguyễn Thị Thu Hường, Phó Chủ tịch UBND Quận 1 cho biết, Trung tâm đã tích hợp hệ thống camera tại địa bàn dân cư và trụ sở Công an 10 phường trên địa bàn với trên 750 mắt camera, đầu tư lắp đặt các camera quan sát tầm xa tại các vị trí trọng điểm phục vụ an ninh trật tự trên địa bàn. Hơn một năm thí điểm, hệ thống đã hỗ trợ, phục vụ tốt cho đơn vị trong công tác chỉ đạo, điều hành xử lý các tình huống phát sinh vào các ngày lễ, tết…; phòng chống các tình huống bạo động, biểu tình, các hành vi gây rối trật tự công cộng.

Trong khi đó, tại Quận 12, địa phương cũng đã triển khai xây dựng Trung tâm chỉ huy hình ảnh và an ninh đặt tại trụ sở Công an quận, tích hợp hơn 600 camera hiện hữu tại các khu dân cư. Quận cũng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của đơn vị, cụ thể triển khai phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc; phần mềm quản lý hồ sơ hành chính; hệ thống quản lý địa bàn khu dân cư; hệ thống thông tin quản lý quy hoạch; triển khai ứng dụng ảnh viễn thám trong quản lý đô thị, tài nguyên môi trường…

Từ năm 2015, Thành phố đã đưa các dự án ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào Chương trình kích cầu với mức hỗ trợ lãi suất mỗi dự án lên tới 100 tỷ đồng. Thành phố cũng đã tích hợp một số lĩnh vực trí tuệ nhân tạo vào Đề án đô thị thông minh, điều này được kỳ vọng như một hạt nhân để thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên địa bàn thành phố. Hiện Tp. Hồ Chí Minh đang triển khai nghiên cứu xây dựng Chương trình “Nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn 2019 – 2025”.

* Tiện ích cho người dân

Dù mới triển khai Đề án đô thị thông minh gần 2 năm, nhưng nhiều lĩnh vực của thành phố đã có những bước đi cụ thể, giúp việc quản lý, điều hành được thuận lợi; người dân cũng bước đầu được thụ hưởng những thành quả của đề án này.

Trung tâm điều hành đô thị thông minh, một trong những trụ cột của đề án, đã triển khai thí điểm kết nối, tích hợp dữ liệu các hệ thống hơn 1.000 camera giám sát của Sở Giao thông Vận tải, UBND các quận. Hệ thống này có thể phân tích nâng cao dữ liệu cùng lúc 50 camera gồm nhận diện khuôn mặt, nhận diện loại phương tiện, phát hiện đám đông, các sự cố về giao thông, an ninh trật tự.

Theo ông Đoàn Văn Tấn, Giám đốc Trung tâm Quản lý đường hầm sông Sài Gòn (Sở Giao thông Vận tải), chức năng giám sát giao thông được thực hiện với 762 camera giám sát giao thông ở nút giao thông trọng điểm, các vị trí thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông… kết nối về trung tâm quản lý và điều hành giao thông. Nhân viên vận hành sẽ ghi nhận tình hình giao thông tại các địa điểm để thông báo cho các đơn vị kịp thời xử lý các tình huống gây ùn tắc giao thông cũng như thông tin các sự cố tai nạn giao thông trên địa bàn.

Với hệ thống camera này, những sự cố giao thông, thông tin ùn tắc giao thông được thông báo thường xuyên trên hệ thống, ứng dụng thông tin giao thông. Cũng trên nền bản đồ giao thông, các thông tin về những điểm ngập thường xuyên được cập nhật trên cổng thông tin Hệ thống thoát nước và ứng dụng UDI Maps… Những ứng dụng này giúp người dân có thể nắm bắt, lựa chọn các cung đường di chuyển thuận lợi hơn, tránh bị kẹt xe, ngập nước; giúp người dân chủ động ứng phó để giảm nhẹ thiệt hại do ngập lụt gây ra…

Cùng với vấn đề giao thông và ngập nước (vốn gắn liền với “đặc trưng” thành phố) thì lĩnh vực y tế cũng được Tp. Hồ Chí Minh chú trọng để phục vụ tốt hơn cho người dân. Hiện ngành y tế đã kết nối liên thông cơ sở dữ liệu của trên 6.000 cơ sở cung ứng thuốc tại thành phố với cơ sở dữ liệu dược quốc gia.

Sở Y tế Tp. Hồ Chí Minh đang hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu của ngành; tăng thêm tiện ích cho người dân khi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe; ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

Ông Tăng Chí Thượng, Phó Giám đốc Sở Y tế Tp. Hồ Chí Minh cho biết, ứng dụng công nghệ thông minh tại các cơ sở khám, chữa bệnh cũng là tạo điều kiện cho các bác sỹ tiếp cận kiến thức khoa học mới, kỹ thuật mới; giảm thiểu các nguy cơ sai sót ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn người bệnh. Điều này cũng giúp giảm các thủ tục hành chính, giấy tờ trong bệnh viện; bác sỹ tuyến dưới có thể kết nối dễ dàng với tuyến trên để hội chẩn, tư vấn.

Trên thực tế, trong giai đoạn đầu thực hiện Đề án đô thị thông minh, thành phố cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề công nghệ. Hiện nhiều công nghệ của các ngành, địa phương đã lạc hậu, thiếu đồng bộ nên không kết nối được với nhau, không nết nối về trung tâm điều hành.

Tại Hội nghị sơ kết Đề án đô thi thông minh, Bí thư Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân đề nghị, trên cơ sở kết quả triển khai, các đơn vị, quận huyện cần xây dựng “khung” chung để các địa phương triển khai đồng bộ; trong đó, cần xác định rõ mục tiêu, đối tác công nghệ trong thời gian tới; ký kết hợp tác với những cam kết cụ thể. Thành phố phải xác định rõ từng vấn đề hợp tác, định hướng cơ chế tài chính cho phù hợp; cách thức hợp tác với người dân, khuyến khích người dân tham gia đề án.

Từ kết quả tích cực ban đầu, những tiện ích người dân bước đầu được thụ hưởng sẽ là “động lực” để Tp. Hồ Chí Minh đẩy mạnh triển khai xây dựng đô thị thông minh. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng đề án được kỳ vọng sẽ đem lại sự phát triển nhanh, bền vững và giải quyết những tồn tại của thành phố hiện nay./.

Nguồn: Tiến Lực


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Cùng hưởng ứng cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, chúng tôi hỗ trợ doanh nghiệp nhiều ngành công nghiệp khác nhau lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

Malaysia phát triển công nghiệp ô tô

Phát triển công nghiệp ô tô (5): Chuyện “chiếc xe quốc dân” Malaysia

Gần 35 năm sau khi mẫu xe đầu tiên trong chương trình phát triển xe hơi quốc dân chính thức ra mắt, Malaysia quyết định đã đến lúc nghiên cứu sản xuất thế hệ thứ ba của dòng ôtô đã trở thành niềm tự hào quốc gia này.

Proton Saga được sản xuất lần đầu năm 1985 là chiếc xe quốc dân đầu tiên của Malaysia – Ảnh: The Malaysia Reserve

“Không chỉ là một chiếc ô tô chất lượng mà còn là biểu tượng của người dân Malaysia, như một dân tộc đầy tự hào.” – Thủ tướng Mahathir Mohamad từng nhận xét về chiếc Proton Saga.

Malaysia quyết tâm có xe của riêng mình

Ngày 9-8, tạp chí Nikkei Asian Review dẫn thông tin từ Bộ trưởng Công nghiệp và thương mại quốc tế Malaysia Darell Leiking cho biết Hãng xe Nhật Bản Daihatsu Motor đã được chọn làm đối tác cho dự án sản xuất chiếc “xe hơi quốc dân” (national car) thứ 3 của Malaysia.

Dự án do Công ty Malaysia DreamEdge làm “chủ xị” và Daihatsu sẽ cung cấp “các hỗ trợ công nghệ tiên tiến” cho việc sản xuất, dù phía Malaysia chưa thông tin cụ thể đó sẽ là các công nghệ nào. Phiên bản mẫu của dòng xe mới dự kiến ra mắt vào tháng 3-2020, và chính thức sản xuất một năm sau đó.

Chiếc xe thế hệ mới này là dự án mới nhất của National Car Project (NCP, Dự án ôtô quốc gia) của Malaysia, sáng kiến mang dấu ấn của đương kim Thủ tướng Mahathir Mohamad.

Trong giai đoạn những năm 1960-1970, xe hơi Nhật chiếm lĩnh thị trường Malaysia. Trước khi bước sang thập niên 1980, Chính phủ Malaysia cho rằng cần phải trực tiếp tham gia ngành công nghiệp sản xuất ôtô để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

Ý tưởng NCP được ông Mahathir Mohamad hình thành từ những năm 1979 khi đang là bộ trưởng công thương. NCP được nội các thông qua vào năm 1982 và chính thức bắt đầu vào tháng 5-1983, với sự ra đời của Hãng xe Perusahaan Otomobil Nasional Sdn. Bhd, theo báo South China Morning Post.

Chiếc xe quốc gia đầu tiên của Malaysia là Proton Saga, ra mắt vào tháng 7-1985, dựa trên linh phụ kiện của chiếc Mitsubishi Lancer Fiore đời 1983. Dự án xe quốc dân được xem là nền móng quan trọng để ngành công nghiệp sản xuất ôtô Malaysia phát triển, tiếp theo sau các chính sách đã áp dụng trước đó để khuyến khích việc lắp ráp và sản xuất linh kiện ôtô trong nước.

Ông Mahathir muốn thông qua NCP để khuyến khích sự phát triển các ngành công nghiệp nặng ở Malaysia, một phần trong tầm nhìn dài hạn của ông về khả năng tự chủ của Malaysia trong công nghiệp ôtô, theo tác giả Hans Cheong trong bài “Nhìn lại 30 năm ngày ra mắt chiếc Proton” trên trang carlist.my.

Cũng chính ông Mahathir đã mời và thuyết phục được Mitsubishi tham gia NCP để tranh thủ học hỏi công nghệ từ gã khổng lồ Nhật Bản này.

Proton Saga được sản xuất tại Nhà máy Shah Alam do Mitsubishi xây dựng cũng trong năm 1985. Ông Mahathir từng nhận xét chiếc Proton Saga “không chỉ là một chiếc ôtô chất lượng mà còn là biểu tượng của người dân Malaysia, như một dân tộc đầy tự hào”.

Người dân Malaysia quả là rất tự hào với chiếc xe quốc dân của mình khi trong năm 1985 đã bầu Proton Saga là “Người đàn ông của năm”, chuyện chưa từng có tiền lệ khi danh hiệu lẽ ra dành cho các quý ông nay lại được trao cho một chiếc xe hơi, theo South China Morning Post.

Ngay năm đầu tiên sau khi ra mắt, Proton Saga đã chiếm 64% thị phần xe nội địa dưới 1.600cc.

Chưa đầy 10 năm sau, vào tháng 8-1994, chiếc xe quốc dân thứ 2 của Malaysia ra đời – Perodua Kancil, do Công ty quốc nội Perodua hợp tác với Daihatsu sản xuất. Theo báo Malay Mail, Perodua đang là thương hiệu có nhiều xe nhất ở Malaysia hiện nay.

Lãnh đạo Hãng ôtô Proton trong buổi lễ mừng lô hàng xuất khẩu sang Trung Đông – Ảnh: Proton

Thế mạnh xuất khẩu linh kiện

Trong thông cáo về dự án xe quốc gia thứ ba, Bộ trưởng Darell Leiking nhấn mạnh chiếc ôtô quốc dân này sẽ hoàn toàn được sản xuất ở Malaysia với mục tiêu ứng dụng khoa học, công nghệ và kỹ thuật.

Malaysia quyết định tiếp tục hướng đến tương lai sau một năm 2018 nhiều thành công của ngành công nghiệp sản xuất ôtô, vốn đã trở thành một trụ cột của kinh tế nước này khi đóng góp 4,2% GDP vào năm ngoái, theo báo The ASEAN Post.

Cần lưu ý là Malaysia chủ yếu sản xuất xe để phục vụ thị trường nội địa, và thế mạnh là xuất khẩu linh phụ kiện.

Theo báo cáo tóm tắt hoạt động ngành công nghiệp sản xuất ôtô trong năm 2018 của MARii (tiền thân là Viện Ôtô Malaysia) trình bày tại một sự kiện hồi tháng 1 năm nay, xuất khẩu xe hơi của Malaysia đã đạt nhiều thành tựu nổi trội, trong đó đáng chú ý là xuất khẩu linh phụ kiện đạt mức lịch sử 2,9 tỉ USD.

Xuất khẩu ôtô cũng lần đầu tiên vượt mốc 500.000 USD. Malaysia cũng có thế mạnh trong việc tái sản xuất (remanufacture) linh phụ kiện, với giá trị xuất khẩu đạt 127,2 triệu USD.

“Những số liệu quan trọng nói trên là tín hiệu rõ ràng cho thấy ngành công nghiệp ôtô có thể sẽ dẫn đầu kế hoạch đưa Malaysia nổi lên như là một đối thủ đáng gờm trong thị trường khu vực và quốc tế” – Thứ trưởng Thương mại quốc tế và công nghiệp Ong Kian Ming nhận xét tại buổi trình bày báo cáo của MARii.

“Khi nói đến công nghiệp sản xuất ôtô, các doanh nghiệp của chúng ta đang có lợi thế trong sản xuất linh phụ kiện” – Thứ trưởng Ong nói. Bộ Thương mại quốc tế và công nghiệp Malaysia đặt mục tiêu tăng cường xuất khẩu linh phụ kiện ôtô, hướng đến giá trị xuất khẩu 3,2 tỉ USD trong năm nay, tức tăng 7,7% so với năm 2018.

Thái Lan sa sút, Indonesia tăng tốc

Một quốc gia có ngành sản xuất ôtô khá phát triển khác ở Đông Nam Á là Indonesia cũng có kế hoạch phát triển “ngành công nghiệp ôtô có tính cạnh tranh toàn cầu”, và trước mắt đã nhận được cam kết đầu tư thêm trị giá đến 33,4 ngàn tỉ rupiah (2,3 tỉ USD), theo báo The Jakarta Post ngày 20-11.

Cụ thể, Toyota dự kiến chi 28,3 ngàn tỉ rupiah để mở rộng hoạt động sản xuất ở Indonesia, bao gồm phát triển các dòng xe thương hiệu Toyota, Daihatsu và Hino, trong khi Honda có thể đầu tư 5,1 ngàn tỉ rupiah. Cả hai nhà sản xuất Nhật đều cam kết đầu tư trong giai đoạn 2019-2023.

Trái với những tin tức lạc quan của Indonesia, ngành công nghiệp ôtô Thái Lan đã bắt đầu “phát tín hiệu nguy hiểm”, theo tờ Bangkok Post ngày 18-11. Hồi tháng 8, General Motors cắt giảm thêm 327 nhân sự tại nhà máy của hãng ở Rayong (thủ phủ sản xuất xe hơi của Thái, nơi còn có nhà máy của Ford). General Motors cũng đồng thời chuyển việc sản xuất dòng xe SUV mới Chevrolet Captiva sang nhà máy ở Indonesia, thay vì Rayong như trước đây.

Cũng trong tháng 8, Ford loan báo sẽ cắt giảm 70.000 nhân sự trên toàn cầu, song Ford Thailand từ chối xác nhận thông tin, nhấn mạnh rằng hai nhà máy của Ford ở Rayong vẫn đang có 5.000-6.000 công nhân. Liên đoàn Các ngành công nghiệp Thái Lan (FTI) đã phải sửa lại dự báo triển vọng sản xuất ôtô của nước này xuống còn 2 triệu chiếc, so với dự báo 2,15 triệu chiếc trước đó.

Đại diện Mazda (Nhật Bản) cũng nói với Bangkok Post hãng đã phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất ở Thái vì doanh số không như ý muốn khi xuất khẩu của Thái Lan giảm sút, còn GDP cũng tăng trưởng chậm.

Source: Trúc Anh


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô  cũng như trong các lĩnh vực công nghiệp khác lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

công nghiệp phụ trợ Hàn Quốc

Phát triển công nghiệp ô tô (4): Ô tô Hàn ‘thoát Nhật’

Câu chuyện từ Hàn Quốc khi lựa chọn gang thép và ô tô để khởi đầu cho phát triển công nghiệp phụ trợ liệu có là bài học của Việt Nam thời gian tới?

Phóng viên Tuổi Trẻ trò chuyện với ông Park Gak No – chuyên gia Viện Xúc tiến kỹ thuật công nghệ cao Hàn Quốc (KIAT).

Công nhân làm việc tại Nhà máy GM Korea ở Hàn Quốc – Ảnh: Reuters

Quyết tâm “thoát Nhật”

“Công nghiệp hỗ trợ Hàn Quốc là bệ đỡ chắc chắn cho quốc gia”, ông Park nhắc lại thời điểm năm 1998 khi châu Á khủng hoảng tài chính; trong đó có Hàn Quốc, mọi lĩnh vực đều bị thâm hụt thương mại, nhưng riêng công nghiệp hỗ trợ vẫn đạt thặng dư 38 tỉ USD và trở thành điểm tựa cho nền công nghiệp nước này.

Đến nay, ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn đạt được mức tăng trưởng tích cực thông qua việc tăng nội địa hóa vật liệu, linh kiện, tăng độ tin cậy sản phẩm và mở rộng thị trường.

Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu ngành linh phụ kiện đạt hơn 82 tỉ USD, thặng dư 119,9 tỉ USD, cao nhất trong lịch sử. Hàn Quốc đứng thứ 7 toàn cầu, thu hút nhiều vốn FDI vào ngành sản xuất chế tạo, trong đó tới 65% tập trung vào công nghiệp phụ trợ.

Ông Park cho rằng kết quả đó là do Chính phủ Hàn Quốc đã liên tục thực hiện các chính sách bảo vệ sản xuất trong nước, trọng tâm là công nghiệp gang thép và ô tô.

Từ đầu những năm 1970, chính phủ công bố danh mục sản phẩm để thúc đẩy sản xuất, tăng tỉ lệ nội địa và cấm nhập khẩu các sản phẩm cùng loại, gắn với đó là hỗ trợ vốn, công nghệ, kỹ thuật.

Những thành phố sản xuất công nghiệp được hình thành, như Busan thành thủ phủ sản xuất ô tô, hay Pohang, Gwangyang là thủ phủ của các nhà máy gang thép…

Đến năm 2000, chính sách chuyển từ bảo hộ đến nền tảng nuôi dưỡng. Luật đặc biệt về vật liệu, linh kiện được ban hành, đa dạng các hoạt động hỗ trợ như vốn, thu hút FDI, nâng cao trình độ kỹ thuật… Năm 2007, chính sách nuôi dưỡng chuyển sang toàn cầu hóa để phát triển linh kiện, vật liệu…

Theo vị chuyên gia KIAT, dù muốn “thoát Nhật” nhưng có thời kỳ Hàn Quốc phải mở cửa nhập khẩu, chủ yếu là Nhật Bản. Đó là những năm 80 khi nước này cần phải học người Nhật về trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất linh kiện, vật liệu.

Thế nhưng khi chính sách “nuôi dưỡng” đã giúp doanh nghiệp Hàn Quốc lớn mạnh, người Hàn muốn tự nghiên cứu, sáng chế ra những công nghệ, sản phẩm của chính họ.

“Đó là lý do mà Luật đặc biệt về vật liệu, linh kiện được gia hạn thêm 10 năm, xúc tiến chiến lược xây dựng mạng lưới nhà cung cấp toàn cầu. Lý do ban đầu là thoát Nhật, hướng đến việc gia nhập các nước tiên tiến. Có trường hợp công ty vật liệu linh kiện của Đức từ bỏ lĩnh vực phân bón để sản xuất pin cho ô tô điện, nên chúng tôi muốn làm như vậy”, ông Park nhấn mạnh.

Nước này đặt tầm nhìn đến năm 2025 sẽ đạt 100 kỹ thuật tối cao và thành cường quốc xuất khẩu với các loại vật liệu, linh kiện cao cấp mới; xây dựng cơ sở hạ tầng ứng phó với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ trên cơ sở nâng cao hiệu suất cho các SME (doanh nghiệp vừa và nhỏ)… 650 tỉ USD nguồn thu của nước này sẽ đến từ xuất khẩu vật liệu, linh kiện và trở thành nước có vị trí thứ 4 trên thị trường thế giới.

Công nhân General Motors tại nhà máy ở Incheon (Hàn Quốc) – Ảnh: Reuters

Nền tảng thành công từ “nuôi dưỡng” doanh nghiệp

Với lĩnh vực ôtô, đến nay Hàn Quốc đạt tỉ lệ nội địa hóa tới 95%, chỉ nhập khẩu một phần linh kiện cao cấp. Như hầu hết lĩnh vực công nghiệp phụ trợ khác, Hàn Quốc lựa chọn phát triển công nghiệp ôtô nhờ vào liên doanh, liên kết.

Nhờ vậy mà các tập đoàn ôtô Hàn từng bước nắm được công nghệ cao. Đến nay, Hàn Quốc là cường quốc thứ 5 toàn cầu về sản xuất ôtô và giữ vị trí thứ 6 về xuất khẩu, tạo hơn 10% việc làm và đóng thuế nhiều nhất.

“Tại sao Hàn Quốc lại chọn gang thép và ôtô là những ngành công nghiệp nền tảng?” – chúng tôi đặt câu hỏi, ông Park lý giải lựa chọn sản xuất gang thép vì đây là nền tảng của toàn bộ ngành công nghiệp – sản xuất bất cứ sản phẩm nào cũng cần phải có sắt và hóa dầu.

Còn với ngành ôtô, ông nói để làm ra chiếc ôtô cần tới khoảng 30.000 linh kiện, chi tiết, nên để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, vật tư linh kiện thì trước hết cần tập trung vào ôtô, tạo ra 30.000 công ty là sẽ có nền tảng. Nhờ vậy mà năm 1975 chiếc ôtô đầu tiên Hyundai Pony do Hàn Quốc sản xuất đã ra đời.

So sánh với ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, chuyên gia người Hàn cho rằng năng lực doanh nghiệp chế tạo của Việt Nam chỉ ngang Hàn Quốc ở những năm 80-90.

Đây là thời kỳ Hàn Quốc vẫn chưa chú trọng nhiều đến chất lượng mà tập trung nhập khẩu, và mãi đến năm 2000 mới đưa ra những khái niệm mới về kinh doanh chất lượng.

Nhờ vậy, đến nay công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ôtô Hàn đã tiến xa bởi những chính sách bảo hộ đến nền tảng nuôi dưỡng, và đầu tư phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu.

Theo đó, các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được “nuôi dưỡng” bằng những chính sách tốt từ chính phủ để có giá thành rẻ nhất.

Cũng bởi để sản xuất ra vật liệu và sản phẩm mới mất nhiều thời gian và tiền bạc nên chính sách tập trung là hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp mà không đặt quá nhiều điều kiện khắt khe.

Khi doanh nghiệp có lãi và phát triển tốt thì mới phải trả lại vốn cho chính phủ. Chính phủ cũng “phân cấp” để các doanh nghiệp lớn/nhỏ ở Hàn có thể cùng bắt tay sinh tồn, phân chia hạng mục sản xuất cho từng doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ông Park cũng lưu ý là dù có chính sách tốt như Hàn Quốc hay Nhật Bản thì vấn đề quan trọng nhất để quyết định sự tồn tại, phát triển của bất cứ mọi ngành là thị trường.

“Để có thể sản xuất ra linh kiện và vật liệu thì phải có đầu ra, mà Việt Nam chưa có nhiều. Nhiều nhà đầu tư lớn của nước ngoài như Hàn Quốc có ôtô Hyundai hay điện tử Samsung đầu tư vào Việt Nam. Nhưng đây là những doanh nghiệp top cao, doanh nghiệp hỗ trợ muốn tham gia cung ứng rất khó.

Gần đây có những doanh nghiệp Việt đã đầu tư vào ngành ôtô, nhắm đến thị trường trong nước. Đó là cơ hội cho ngành công nghiệp ôtô phát triển trên nền tảng tập trung hỗ trợ và liên kết, nâng cao năng lực cho các nhà cung ứng linh phụ kiện trong nước để tự tạo ra dòng chảy chuỗi giá trị”, ông Park khuyến nghị.

Xe Hàn, xe Nhật đều có ưu thế riêng

Xe Nhật tốt hơn hay xe Hàn tốt hơn? Sản phẩm của mỗi cường quốc ôtô châu Á khác nhau ra sao, và mỗi bên có gì để “đấu” với bên còn lại?

Theo trang Car from Japan, xe Nhật có tính ổn định cao, thường được khách hàng trung niên ưa chuộng. Nếu mua xe Nhật thì có thể yên tâm sử dụng ít nhất 10 năm mà không phải sửa chữa nhiều.

Car from Japan đánh giá yếu tố khác biệt lớn nhất là xe Nhật quan tâm tính an toàn, và nếu đặt thẩm mỹ, thiết kế “chất” và tính an toàn, độ tin cậy lên bàn cân thì các hãng xe Nhật sẽ chọn vế sau. Điều này có nghĩa ưu thế của xe Hàn là nội thất tốt, được đầu tư nhiều, ngoài ra còn có nhiều “đồ chơi”, phụ kiện để người dùng thoải mái lựa chọn. Nếu một chiếc xe Nhật và Hàn cùng giá thì xe Hàn có nội thất vượt trội…

Source: Trúc Anh


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô  cũng như trong các lĩnh vực công nghiệp khác (ví dụ: sản xuất sắt, thép, inox) lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.

công nghiệp ô tô Hàn quốc

Phát triển công nghiệp ô tô (3): Cú tăng tốc của ô tô Hàn

Không phải ngẫu nhiên đứng cạnh “người khổng lồ” Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn có thể phát triển ngành công nghiệp ô tô của riêng mình.

Tổng lãnh sự Hàn Quốc tại Canada Dong Woon Chu (phải) và một quan chức địa phương ngồi trên chiếc xe Pony do Hyundai sản xuất tại nhà máy ở Canada năm 1985 – Ảnh: Getty Images

Chúng tôi muốn tập trung tái cấu trúc hệ sinh thái linh phụ kiện ô tô để đương đầu với các thay đổi trong thị trường – Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc thông cáo – Chúng tôi sẽ giúp các nhà cung ứng tham gia được vào thị trường xe của tương lai và tiếp tục tăng trưởng.

Chính phủ Hàn Quốc đã có nhiều chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả giúp ngành sản xuất ô tô nước này cất cánh. Rồi khi các hãng xe và nhà cung ứng linh phụ kiện gặp khủng hoảng, cũng chính phủ ra tay giải cứu…

Đầu tư cho công nghiệp ô tô

Theo bài “Phát triển công nghiệp hỗ trợ qua kinh nghiệm các nước” đăng trên báo điện tử chính phủ ngày 31-8-2018, sự hợp tác giữa chính phủ với các “chaebol” – tập đoàn, công ty thuộc sở hữu gia đình – đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và tạo nên những thành công đáng kinh ngạc của Hàn Quốc.

Trong số này có lĩnh vực sản xuất ô tô. Đầu những năm 1960, Hàn Quốc đã vạch ra chiến lược chọn một số tập đoàn mạnh để phát triển kinh tế quốc gia theo hướng xuất khẩu và đồng thời thay thế hàng nhập khẩu. Cùng với sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các chaebol, công nghiệp hỗ trợ (ở Hàn Quốc gọi là công nghiệp vật liệu và phụ tùng) tại Hàn Quốc phát triển mạnh vào thập niên 1970 và 1980.

Chính phủ Hàn Quốc công bố “Chính sách thúc đẩy công nghiệp ô tô” vào năm 1962 và sau đó là “Đạo luật bảo hộ công nghiệp ô tô” để phát triển ngành công nghiệp mới “sơ sinh” này. Cụ thể, các nhà sản xuất nước ngoài bị cấm hoạt động ở Hàn Quốc, trừ khi tham gia liên doanh với các pháp nhân trong nước. Những nỗ lực của chính phủ đã dẫn đến việc nhiều công ty vốn hoạt động trong lĩnh vực khác cũng nhảy vào ngành sản xuất ô tô và nhiều công ty khởi nghiệp (startup) được thành lập.

Các điển hình là Kyeongseong Precision Industry (sau đổi tên Kia Industry) liên kết với Hãng Mazda để lắp ráp xe ở Hàn Quốc; hay Saenara Automobile với sự hỗ trợ kỹ thuật của Nissan Motor Co, là hãng xe đầu tiên của Hàn Quốc được trang bị dây chuyền và cơ sở lắp ráp hiện đại.

Tương tự là Asia Motors Company (1965) và Hyundai Motor Company (1968) hợp tác kỹ thuật với Ford Motor Company. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, tất cả công ty này chỉ đơn thuần là hãng lắp ráp, sử dụng linh kiện nhập khẩu từ đối tác nước ngoài.

Sang thập niên 1980, Chính phủ Hàn Quốc có chính sách nhằm ngăn bốn nhà sản xuất lớn trong nước là Hyundai Motors, Kia Industry, General Motors Korea và Asia Motors cạnh tranh mạnh mẽ với nhau, đồng thời hoãn chính sách cho phép nhập khẩu ô tô để tiếp tục phát triển sản xuất trong nước.

Song song với việc phát triển các chaebol, Hàn Quốc đã buộc các tập đoàn này phải chuyển phần sản xuất linh kiện, phụ tùng sang các doanh nghiệp nhỏ để tạo sự lan tỏa và gia tăng tính cạnh tranh, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Năm 2005, Chính phủ Hàn Quốc triển khai Chiến lược phát triển nguyên liệu và linh phụ kiện nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành sản xuất ô tô và điện tử. Trong chiến lược này, hai doanh nghiệp hạt nhân là Samsung, Lucky Gold Star và một số nhà sản xuất chuyên cung ứng linh phụ kiện phải phát triển các sản phẩm này để thay thế nhập khẩu. Chương trình bắt buộc các doanh nghiệp hạt nhân phải cam kết mua linh kiện của các doanh nghiệp cung ứng này.

Nhà máy Hyundai Motor ở Asan, cách Seoul 100km – Ảnh: Reuters

Quan hệ với nhà sản xuất linh kiện

Trong bài nghiên cứu với chủ đề “Sự trỗi dậy của ngành công nghiệp ô tô Hàn Quốc” đăng trên tập san International Journal of Multidisciplinary Research tháng 10-2011, tác giả Choong Y. Lee (Đại học Pittsburg, Mỹ) phân tích nhiều khía cạnh, trong đó có mối quan hệ giữa nhà sản xuất ô tô và các hãng làm linh phụ kiện.

Tác giả cho biết các hãng sản xuất ô tô Hàn có cách làm khác biệt so với các nước là để các nhà sản xuất linh phụ kiện đồng hành với họ ngay từ giai đoạn phát triển (chưa sản xuất) sản phẩm. Các hãng xe tạo dựng mối quan hệ hợp tác độc quyền với nhà cung ứng linh kiện thông qua các hợp đồng dài hạn và cho họ tham gia vào các khâu phát triển sản phẩm của mình bằng cách chia sẻ thông tin, kể cả giá thành và biên độ lợi nhuận mong muốn…

“Bằng cách này, hãng sản xuất ô tô Hàn có được sự ủng hộ chân thành và hợp tác trung thực nhất từ các nhà cung ứng, dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Và điều này giúp giảm thời gian phải thiết kế hay chế tạo lại vì linh kiện làm ra không vừa ý, dẫn đến lợi ích sau cùng là giảm chi phí”, tác giả Lee lập luận.

Việc trao đổi thường xuyên từ khâu phát triển cũng giúp các nhà sản xuất linh kiện sản xuất dễ dàng và nhanh chóng khi doanh nghiệp ô tô chuyển sang giai đoạn sản xuất thật. “Các hãng xe Hàn Quốc đã có thể rút ngắn thời gian từ phát triển một mẫu xe mới đến tung ra bán ngoài thị trường xuống còn khoảng 3 năm”, tác giả viết.

Ngoài ra, việc để các nhà cung ứng linh kiện tham gia khắng khít từ đầu cũng giúp các hãng tiết kiệm nhiều triệu USD mỗi khi phát triển và sản xuất mẫu xe mới.

Khủng hoảng và những gói giải cứu

Từng giai đoạn cụ thể, Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách thành công để ngành sản xuất ô tô trong nước cất cánh. Khi ngành công nghiệp này gặp khủng hoảng, chính phủ lại một lần nữa ra tay.

Ngày 27-9-2018, tân Bộ trưởng Thương mại, công nghiệp và năng lượng Hàn Quốc Sung Yun-mo công du đến thành phố Cheonan (tỉnh Chungcheongnam-do) để gặp gỡ các nhà sản xuất linh kiện ô tô. Đây là lần đầu tiên một tân bộ trưởng đến thăm cơ sở sản xuất công nghiệp trong ngày làm việc đầu ở cương vị mới, theo nhật báo Hankyoreh.

Cụ thể, theo Hankyoreh, kể từ năm 2014, các nhà cung ứng linh kiện sản xuất ô tô nhỏ và vừa bắt đầu gặp khó khăn về tài chính sau khi khách hàng của họ tăng trưởng chậm lại.

Từ năm 2017, nhiều nhà cung cấp linh kiện thứ cấp cho hai đại gia Hyundai Motors và Kia Motors đã lần lượt tuyên bố công ty trong tình trạng receivership (để chủ nợ nắm quyền điều hành công ty vì không có đủ tiền trả nợ).

Sang năm 2018, khủng hoảng lan sang các công ty lớn hơn – tức các nhà cung ứng sơ cấp. “Khi các nhà cung ứng linh kiện sụp đổ, các nhà sản xuất ô tô cũng phải gánh chịu hậu quả. Vì thế không phóng đại khi cho rằng ngành công nghiệp ô tô nói chung đang bị khủng hoảng”, bài báo viết.

Ngoài ra, các chuyên gia Hàn Quốc cho biết nguyên nhân khủng hoảng khác là sự sút giảm nhân sự, khi số lao động trong ngành giảm đến con số hàng ngàn trong giai đoạn từ tháng 7 và tháng 8-2018. Ngành sản xuất ô tô Hàn Quốc cho ra 4 triệu sản phẩm/năm và hiện có khoảng 4.600 nhà cung ứng linh kiện.

Hankyoreh cho biết có 350.000 lao động trực tiếp trong ngành, nhưng nếu tính cả gia đình và những người phụ thuộc thì có hơn 1 triệu người đang sống nhờ vào ngành công nghiệp này.

Vì thế mà để giải cứu ngành ô tô khỏi khủng hoảng, Chính phủ Hàn Quốc hồi tháng 12-2018 duyệt kế hoạch tung ra gói cứu trợ 3,5 tỉ won để giúp các nhà cung ứng linh kiện ô tô vượt khó.

Theo tạp chí Nikkei Asian Review, số tiền này chủ yếu giúp các nhà cung ứng linh kiện giải quyết thanh khoản bằng cách giãn nợ.

Bộ Thương mại, công nghiệp và năng lượng Hàn Quốc cũng sẽ cung cấp thêm 2 tỉ won để các nhà cung cấp nghiên cứu sản xuất các sản phẩm cần thiết cho xe cộ thế hệ mới, chẳng hạn như xe chạy điện.

Nguồn: Trường Sơn


Data V Tech tự hào là công ty đi đầu trong việc tư vấn triển khai phần mềm Epicor ERP ở châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi đã hỗ trợ nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô  cũng như trong các lĩnh vực công nghiệp khác lựa chọn giải pháp phù hợp với mình. Để được tư vấn trực tiếp, xin liên hệ với chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ liên lạc lại với quí doanh nghiệp sớm nhất.