chuyển đổi hoá đơn

Doanh nghiệp đừng để lỡ thời điểm vàng chuyển đổi hóa đơn điện tử

Trong cuộc đua 4.0 không chỉ các doanh nghiệp mới thành lập mà ngay cả các doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn giấy cũng nhanh nhạy thời cuộc và chuyển đổi sang hóa đơn điện tử bởi những lợi ích lớn mà nếu không bắt kịp xu hướng, doanh nghiệp sẽ để lỡ nhiều cơ hội lớn.

Đứng trước Thông tư 68/2019/TT-BTC được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử và sự quyết liệt trong việc đạt mục tiêu hoàn thành áp dụng hóa đơn điện tử theo lộ trình của Cục Thuế, Chi Cục Thuế, doanh nghiệp càng có nhiều hơn những thuận lợi khi chuyển đổi hóa đơn điện tử tại thời điểm này. Bởi chỉ khi nhanh nhạy, bắt kịp xu hướng, doanh nghiệp mới tận dụng được những lợi thế của người đi đầu.

Nhận được các chương trình khuyến khích, tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp từ cơ quan Thuế: Tránh được “ùn tắc” thủ tục hành chính khi đến hạn bắt buộc, hàng trăm nghìn doanh nghiệp sẽ đồng loạt triển khai, doanh nghiệp khó nhận được sự tư vấn chi tiết, kịp thời như trường hợp triển khai sớm.

Doanh nghiệp có cơ hội làm quen với những quy định, quy trình mới về hóa đơn điện tử: Việc này sẽ giảm thiểu tối đa những rủi ro gây gián đoạn hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp. Tối ưu hóa các công việc liên quan đến hóa đơn. Các hoạt động liên quan đến kê khai, báo cáo cũng được giảm thiểu tối đa thời gian và sai sót khi được tự động hóa thông qua tích hợp phần mềm kế toán và hóa đơn điện tử. Không những thế, thời điểm này, doanh nghiệp còn có thể sử dụng song song 2 loại hóa đơn để vừa tiết kiệm chi phí vừa có thời gian làm quen với quy định mới.

Thúc đẩy nhanh quy trình kinh doanh và quá trình thanh toán của khách hàng: Thay vì phải mất từ 3 ngày đến một tuần để khách hàng nhận được hóa đơn qua chuyển phát nhanh và tiến hành thanh toán thì việc gửi hóa đơn điện tử cho khách qua email sẽ rút ngắn thời gian thanh toán của khách, việc thu hồi công nợ của của doanh nghiệp nhanh chóng hơn, đem lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh so với đối thủ.

Tạo ấn tượng về sự chuyên nghiệp trong mắt khách hàng và đối tác: Có những điểm chạm rất nhỏ nhưng lại mang ấn tượng lớn về doanh nghiệp trong khách hàng như hóa đơn – một trong những ấn phẩm được gửi tới khách hàng nhiều nhất. Hóa đơn điện tử được thiết kế đẹp mắt, đến tay khách hàng nhanh chóng sẽ tạo được ấn tượng tốt trong mắt khách hàng. Đây cũng là cách doanh nghiệp thể hiện sự chuyên nghiệp, hiện đại của mình đối với khách hàng và đối tác.

số hoá hoá đơn

 

Bởi những lợi ích mang lại cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp ngày càng tăng nhanh, trên thị trường đã và đang xuất hiện nhiều nhà cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử. Trong khi đó, Thông tư số 68/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính mới ban hành đồng nghĩa với việc nhiều nhà cung cấp hóa đơn điện tư không đạt yêu cầu. Vì thế, các doanh nghiệp cần nắm vững hành lang pháp lý để chọn lựa nhà cung cấp hóa đơn điện tử phù hợp, tránh các rủi ro liên quan đến an toàn, bảo mật thông tin.

Để giúp doanh nghiệp tiếp cận được những dịch vụ tốt nhất, Cục Thuế Hà Nội đã thống kê các nhà cung cấp uy tín trên thị trường. Đơn cử như hóa đơn điện tử meInvoice của MISA – được phát triển dựa trên công nghệ Blockchain, chống làm giả hóa đơn, tối đa hóa tính bảo mật thông tin người dùng. MeInvoice được phát triển bởi MISA – một doanh nghiệp đã có hơn 25 năm kinh nghiệm trong phát triển phần mềm kế toán – tài chính và quản trị doanh nghiệp. Bởi vậy, meInvocie dễ dàng tích hợp với các phần mềm khác trong hệ sinh thái giải pháp số như phần mềm lý bán hàng, quản trị doanh nghiệp, kế toán… MeInvoice đã phục vụ cho gần 50.000 doanh nghiệp trên cả nước trong công tác phát hành và lưu trữ hóa đơn, con số này sẽ không ngừng tăng lên bởi cam kết về chất lượng sản phẩm cùng mục tiêu đồng hành với doanh nghiệp trong công cuộc chuyển đổi số của MISA.

Nguồn: Ánh Dương


Data V Tech là đơn vị tư vấn, triển khai phần mềm kế toán phù hợp với môi trường Việt Nam. Quý doanh nghiệp có nhu cầu tối ưu hoá hiệu quả quản lý cũng như nâng cao năng suất, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn!

công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin (Information Technology – IT) là gì?

Công nghệ thông tin (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt: IT) là việc sử dụng bất kì máy tính, lưu trữ, mạng và các thiết bị vật lí, và qui trình nào khác để tạo, xử lí, lưu trữ, bảo mật và trao đổi tất cả các dạng dữ liệu điện tử.

Khái niệm

Đây là việc sử dụng bất kì máy tính, lưu trữ, mạng và các thiết bị vật lí, cơ sở hạ tầng và qui trình nào khác để tạo, xử lí, lưu trữ, bảo mật và trao đổi tất cả các dạng dữ liệu điện tử.

Thông thường, công nghệ thông tin được sử dụng trong bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp, trái ngược với công nghệ cá nhân hoặc giải trí. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong thương mại bao gồm cả công nghệ máy tính và điện thoại.

Thuật ngữ công nghệ thông tin được đưa ra bởi Harvard Business Review. Từ khi ngành công nghệ thông tin phát triển từ giữa thế kỷ 20, khả năng tính toán của máy tính đã ngày càng gia tăng; đồng thời giá cả các thiết bị và mức tiêu thụ năng lượng liên tục giảm xuống, và chu kì này tiếp tục tái diễn cho đến ngày nay khi các công nghệ mới xuất hiện.

Công nghệ thông tin phần cứng và phần mềm

Công nghệ thông tin bao gồm một số lớp thiết bị vật lí (phần cứng), công cụ quản lí hoặc tự động hóa, hệ điều hành và ứng dụng (phần mềm) được sử dụng để thực hiện các chức năng thiết yếu.

Thiết bị người dùng, thiết bị ngoại vi và phần mềm, chẳng hạn như máy tính xách tay, điện thoại thông minh hoặc thậm chí thiết bị ghi âm, đều có thể được coi thuộc phạm vi của công nghệ thông tin.

Thuật ngữ công nghệ thông tin cũng có thể được dùng để chỉ các kiến trúc, phương pháp và qui định quản lí việc sử dụng và lưu trữ dữ liệu.

Các ứng dụng kinh doanh bao gồm cơ sở dữ liệu như SQL Server, các hệ thống giao dịch như nhập đơn hàng thời gian thực, máy chủ email như Exchange, máy chủ Web như Apache, quản lí quan hệ khách hàng và hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp.

Các ứng dụng này thực hiện các hướng dẫn theo lập trình để thao tác, hợp nhất, phân tán hoặc tác động đến dữ liệu để phục vụ cho mục đích kinh doanh.

Các kiến trúc công nghệ thông tin đã phát triển để tạo ra công nghệ ảo hóa và điện toán đám mây, trong đó tài nguyên vật lí được trừu tượng hóa và gộp thành các cấu hình khác nhau để đáp ứng các yêu cầu của ứng dụng.

Những dữ liệu lưu trữ trong đám mây có thể được phân phối và chia sẻ với nhiều người dùng hoặc được chứa trong một trung tâm dữ liệu của công ty; hoặc kết hợp cả hai.

Một số ngành nghề trong công nghệ thông tin

Các ngành nghề trong lĩnh vực công nghệ thông tin rất đa dạng. Nhân viên công nghệ thông tin có thể chuyên về các lĩnh vực như phát triển phần mềm, quản lí ứng dụng, các thành phần phần cứng như hỗ trợ máy tính để bàn, máy chủ hoặc quản trị viên lưu trữ và kiến trúc mạng.

Nhiều doanh nghiệp tìm kiếm các chuyên gia công nghệ thông tin với nhiều kĩ năng trong những lĩnh vực khác nhau.

Một số nghề phổ biến

  • Lập trình viên: viết, cập nhật và kiểm tra mã cho các chương trình để đáp ứng các mục tiêu kinh doanh trong nội bộ hoặc trực tiếp theo làm việc với khách hàng.
  • Quản trị viên hệ thống: xác định cấu hình, quản lí, hỗ trợ và khắc phục sự cố môi trường máy tính đa người dùng.
  • Giám đốc công nghệ thông tin: chịu trách nhiệm về các hệ thống công nghệ thông tin và máy tính hỗ trợ các mục tiêu của doanh nghiệp.

 

Nguồn: Giang


Data V Tech luôn chào đón các tài năng trẻ, và chúng tôi luôn mở rộng cơ hội cho sinh viên các ngành nghề khác! Hãy tham khảo thêm cách ngành nghề IT khác tại website của chúng tôi, hoặc liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc!

May Sông Hồng ERP

Công ty CP May Sông Hồng liên tục đổi mới, sáng tạo

(ĐTCK) Nghị quyết Hội đồng quản trị mới nhất của Công ty cổ phần May Sông Hồng (MSH) gây chú ý với giới đầu tư khi thống nhất đường hướng mới cho mảng chăn ga gối đệm để gia tăng hiệu quả. Ở doanh nghiệp dệt may này, việc tìm kiếm những hướng đi mới để gia tăng giá trị cho các bên liên quan luôn được đề cao.

 

Theo ông Bùi Việt Quang, Tổng giám đốc May Sông Hồng, trong những năm gần đây, tỷ trọng doanh thu mảng chăn ga gối đệm không còn đóng góp lớn trong tổng doanh thu Công ty, do mảng may mặc tăng trưởng mạnh.

Tuy nhiên, Công ty vẫn coi đây là một thế trận quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Hiện mảng chăn ga gối đệm chỉ chiếm khoảng 10% trong cơ cấu doanh thu của May Sông Hồng, với khoảng 400 tỷ đồng/năm.

Sản phẩm chăn ga gối đệm Sông Hồng được bán chủ yếu tại thị trường trong nước thông qua hệ thống 300 showroom mở khắp cả nước. Công ty đang thử nghiệm xuất khẩu sang Hàn Quốc và Nhật Bản và bước đầu cho thấy tín hiệu tích cực.

“Chúng tôi đã xây dựng chiến lược thay đổi và nâng cấp toàn bộ hệ thống nhận diện sản phẩm, đặt văn phòng thiết kế tại Mỹ nhằm quốc tế hóa sản phẩm, thông qua các kênh thương mại điện tử từ năm 2020 trở đi”, ông Quang chia sẻ.

Nhìn nhận cơ hội và tiềm năng tăng trưởng của Công ty trong năm 2020, ông Quang cho biết, doanh thu mảng sản phẩm may mặc FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) sẽ tiếp tục tăng trưởng tối thiểu 20% so với 2019 do Công ty đã ký thêm hợp đồng với những khách hàng mới có tầm cỡ hơn.

quản trị doanh nghiệp may

Sức mạnh cốt lõi của May Sông Hồng bên cạnh năng lực sản xuất gồm 6 nhà máy với 155 chuyền may, hơn 6 triệu sản phẩm/tháng, còn là việc triển khai hệ thống quản trị doanh nghiệp ERP và hàng loạt phần mềm quản trị vệ tinh khác, làm tăng cao tính chính xác và kịp thời trong công tác quản lý sản xuất – kinh doanh.

Trong báo cáo phân tích mới đây, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) nhận định, điểm ấn tượng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của May Sông Hồng trong 9 tháng qua là biên lợi nhuận gộp tăng 0,9% so với cùng kỳ, đạt 20,3%; đồng thời, tiết giảm chi phí tài chính do tỷ giá ít biến động và nợ vay giảm.

Xu hướng dịch chuyển đơn hàng từ CMT (gia công theo mẫu và cung cấp nguyên vật liệu) sang FOB giúp cho biên lợi nhuận của doanh nghiệp được nâng lên.

VCBS dự báo, doanh thu và lợi nhuận của May Sông Hồng vẫn tăng trưởng tốt trong 5 năm tiếp theo, với mục tiêu mảng FOB chiếm tới trên 80%.

Nhà máy may Sông Hồng 10 (tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Ðịnh) được khởi công xây dựng trong quý II/2019, dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2020 với 40 chuyền may sẽ giúp Công ty gia tăng công suất 25%. Ðây sẽ là động lực giúp Công ty tăng trưởng trong thời gian tới.

Vừa qua, Công ty thông báo chi trả tạm ứng cổ tức 2019 với tỷ lệ 45% bằng tiền mặt. Tỷ lệ chi trả cổ tức cao lên tới 40 – 45% vốn điều lệ với nền tảng cơ cấu tài chính vững chắc và mức tăng trưởng hoạt động kinh doanh tốt là một trong những điểm sáng so với các công ty trong ngành.

Năm 2020, VCBS dự phóng, doanh thu và lợi nhuận sau thuế của Công ty đạt lần lượt 4.931 tỷ đồng, (tăng trưởng 5,4%) và 472 tỷ đồng (tăng trưởng 5,2%), tương ứng với mức thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) là 9.478 đồng.

VCBS định giá cổ phiếu MSH với giá mục tiêu 71.942 đồng/cổ phiếu cho năm 2020.

Nguồn: Báo Tin nhanh Chứng khoán

 


Data V Tech là đại diện uỷ quyền của Công ty Phần mềm Epicor tại Việt Nam để tư vấn, triển khai hệ thống ERP cho doanh nghiệp trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Quý doanh nghiệp có nhu cầu tối ưu hoá hiệu quả sản xuất, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn!

Thống kê Việt Nam: Chuyển mình rõ rệt trong kỷ nguyên 4.0

(Chinhphu.vn) – Ngành Thống kê đã và đang có những bước chuyển mình rõ rệt, từ quyết tâm mạnh mẽ của đội ngũ lãnh đạo ngành đến ý thức của mỗi cá nhân hướng tới việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực từ quản lý điều hành đến chuyên môn nghiệp vụ trong thời kỳ 4.0.

Câu chuyện không mới

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các hoạt động thống kê không phải là câu chuyện mới đối với ngành thống kê. Cách đây vài chục năm, thống kê là một trong những ngành dẫn đầu cả nước về ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ, như: Sử dụng các phần mềm trong phân tích, xử lý dữ liệu hoặc cập nhật phiếu dữ liệu thu thập được từ các cuộc điều tra thống kê với các bài toán phức tạp….

Tuy nhiên, với nhu cầu và trào lưu, xu hướng phát triển của xã hội hiện đại thì ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở đó, mà cần yêu cầu cao hơn, đó là tích hợp, chia sẻ dữ liệu, là sử dụng dữ liệu lớn trong điều tra thống kê, là ứng dụng các thiết bị công nghệ thông minh trong điều tra thống kê, là sử dụng các phần mềm thông minh để phân tích và chạy dữ liệu…

Trước thực trạng đó, khi xây dựng Luật Thống kê sửa đổi năm 2015, các nhà làm Luật đã đưa ra những điểm mới căn bản trong Luật, đó là các điều khoản liên quan đến sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin cho hoạt động thống kê. Quy định của luật là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành thống kê có căn cứ triển khai xây dựng nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động thống kê.

Đặc biệt, gần đây nhất Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghị quyết này đã nhấn thêm sức mạnh và quyết tâm ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt công tác từ quản lý điều hành đến nghiệp vụ chuyên môn của ngành Thống kê nói riêng và các ngành khác trong cả nước nói chung.

Trên con đường số hóa

Ngày 10/5/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 501/QĐ-TTg phê duyệt Đề án ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động thống kê Nhà nước giai đoạn 2017-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Đề án 501 đưa ra mục tiêu chung là ứng dụng mạnh CNTT-TT và các phương pháp khoa học dữ liệu để nâng cao chất lượng hoạt động thống kê Nhà nước hướng đến hệ thống thông tin thống kê quốc gia tích hợp và hiện đại trong giai đoạn 2020-2025.

Mục tiêu đến năm 2020 xây dựng hệ thống thông tin thống kê quốc gia, từng bước kết nối với hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành, địa phương; sử dụng công nghệ thông minh (webform và thiết bị cầm tay) thay thế phiếu điều tra giấy bằng phiếu điều tra điện tử trong các cuộc điều tra thống kê, cụ thể: 80% trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, 75% trong điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020, 75% trong điều tra doanh nghiệp và hộ cá thể, 80% trong các cuộc điều tra khác…

Bên cạnh đó, tích hợp, tiếp nhận hoàn chỉnh các dữ liệu hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc, bảo hiểm xã hội và cơ sở dữ liệu một số bộ, ngành để biên soạn các chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của Việt Nam…

Xa hơn nữa, mục tiêu của năm 2025 là hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê nhà nước và hệ cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia tập trung, thống nhất theo quy định của Luật Thống kê; sử dụng 85% phiếu điều tra điện tử trong Tổng điều tra kinh tế năm 2021 và 90% trong các cuộc điều tra khác; tích hợp hoàn chỉnh dữ liệu hành chính có liên quan trong các ngành, lĩnh vực…

Theo đó, một số bộ, ngành và Tổng cục Thống kê đã thực hiện chia sẻ dữ liệu hành chính trong công tác thống kê. Việc sử dụng nguồn dữ liệu hành chính từ ngành Thuế, Kho bạc Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước khác như y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa thể thao, thông tin truyền thông trong Tổng điều tra kinh tế 2017 là một ví dụ điển hình. Đặc biệt, sự chia sẻ dữ liệu của ngành thuế trong rà soát điều tra khối doanh nghiệp đã đóng góp rất lớn vào thành công của cuộc tổng điều tra này.

Trong vài năm trở lại đây, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục và một số Cục Thống kê địa phương đã đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm ứng dụng một số phương thức mới trong thu thập thông tin như: Sử dụng thiết bị điện tử thông minh (CAPI) trong điều tra giá tiêu dùng, lao động – việc làm, điều tra bằng webform trong điều tra doanh nghiệp; ứng dụng phần mềm blockchaine điều tra chăn nuôi; ứng dụng phần mềm điều tra chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá bất động sản bằng dữ liệu lớn hay ứng dụng bài giảng điện tử trong công tác tập huấn điều tra mức sống dân cư…

Đặc biệt, việc áp dụng hình thức thu thập thông tin bằng CAPI trong các cuộc điều tra mẫu vài năm gần đây và mới nhất là trong Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019 cho thấy việc sử dụng thiết bị điện tử di động như máy tính bảng, điện thoại thông minh để thu thập thông tin sẽ làm tăng chất lượng dữ liệu do kiểm soát được các lỗi lô gic trong quá trình thu thập thông tin (khi điều tra viên tiến hành phỏng vấn tại hộ, phầm mềm trong thiết bị sẽ phát hiện những lỗi sai lô gic trong quá trình hộ trả lời phỏng vấn và có cảnh báo để điều tra viên kiểm tra lại thông tin kỹ hơn), giám sát được việc điều tra viên thống kê có thực tế đến hộ phỏng vấn hay không; bên cạnh đó tiết kiệm được thời gian hoàn thành phiếu điều tra (điều tra viên kết thúc phỏng vấn tại hộ, phiếu điều tra được gửi thẳng về trung tâm), nhờ đó rút ngắn thời gian xử lý và công bố dữ liệu (do không phải làm sạch phiếu và nhập tin). Phương pháp này sẽ tiết kiệm một khoản kinh phí lớn để in phiếu giấy, thuê người nhập tin và các chi phí liên quan khác. Đã có trên 99,9% hộ dân cư được điều tra bằng hình thức CAPI trong Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019, vượt mục tiêu Đề án 501 đề ra.

Tiếp nối thành công từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 cũng ứng dụng CNTT trong tất cả các khâu điều tra. Và điểm đặc biệt hơn trong cuộc điều tra này là việc kết nối các thông tin sẵn có của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Có khoảng hơn 20 trường dữ liệu từ kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 được kết nối với chương trình điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Các thông tin này được kiểm tra, đối chiếu trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn của điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 và được sử dụng để tổng hợp số liệu và phân tích báo cáo kết quả điều tra. Đây là lần đầu tiên ngành thống kê thực hiện kết nối chuỗi dữ liệu mảng (panel data) ngay trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn giúp thuận tiện cho quá trình điều tra, nâng cao chất lượng thông tin, giảm bớt thời gian để thu thập các thông tin đã sẵn có.

Có thể thấy, áp dụng hình thức thu thập thông tin bằng CAPI và Webform là một bước tiến trong cải tiến phương pháp điều tra thống kê, giúp nâng cao chất lượng số liệu, giảm thời gian xử lý và công bố kết quả và phù hợp với xu hướng phát triển chung của thống kê trên thế giới và trong khu vực.

Việc sử dụng dữ liệu lớn trong điều tra thông tin cũng được một số đơn vị của ngành Thống kê nghiên cứu, thử nghiệm. Gần đây, Vụ Thống kê Giá thử nghiệm điều tra chỉ số giá bất động sản; ứng dụng công cụ lắng nghe dư luận theo hướng tiếp cận từ dữ liệu lớn hay Viện Khoa học Thống kê đã bước đầu thử nghiệm tính chỉ số giá tiêu dùng cũng qua sử dụng dữ liệu lớn của các trang web bán hàng trực tuyến có uy tín. Dù việc sử dụng dữ liệu lớn để thu thập thông tin cũng bộc lộ một số bất cập như chỉ số giá tiêu dùng tính từ nguồn big data không tính được theo vùng địa lý kinh tế, địa phương, khu vực thành thị, nông thôn và cũng không tính được cho tất cả các ngành hàng… Tuy nhiên, kết quả thu được từ những nghiên cứu này cũng là gợi ý rất đáng lưu tâm trong quá trình hoàn thiện công tác thống kê trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay.

Rõ ràng, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thống kê đã đem lại những lợi ích to lớn, tuy nhiên để việc ứng dụng này đạt hiệu quả to lớn rất cần sự đầu tư cơ bản từ hạ tầng thông tin, hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và trên hết là ý thức của đội ngũ lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương quyết tâm đưa số hóa, công nghệ hóa vào thực tiễn công tác từ quản lý điều hành đến chuyên môn nghiệp vụ nhằm hướng tới nâng cao chất lượng số liệu thống kê trong thời đại kỷ nguyên số./.

Nguồn: Baochinhphu.vn


Data V Tech là đơn vị tư vấn, triển khai phần mềm quản lý tài chính doanh nghiệp phù hợp với môi trường Việt Nam. Quý doanh nghiệp có nhu cầu tối ưu hoá hiệu quả quản lý cũng như nâng cao năng suất, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn!

nền tảng quản trị

Phạm Kim Hùng và chặng đường đi tìm lời giải cho các bài toán của doanh nghiệp

Đạt thành tích cao trong lĩnh vực Toán học và có tương lai rộng mở ở Mỹ sau khi tốt nghiệp ĐH Stanford danh giá, nhưng Phạm Kim Hùng lại tìm thấy hướng đi cho riêng mình ở quê nhà: xây dựng nền tảng quản trị doanh nghiệp, cung ứng hệ thống phần mềm quản trị hoàn toàn mới cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.

Đoạt cú đúp huy chương tại 2 kỳ thi Olympic Toán quốc tế, rồi giành suất học bổng toàn phần tại ĐH Stanford danh giá, tác giả cuốn sách “Sáng tạo bất đẳng thức” được xuất bản bằng 4 thứ tiếng trên thế giới, Phạm Kim Hùng được cộng đồng Toán học trong nước thời đó biết đến rộng rãi với danh hiệu “chàng trai vàng trong làng Toán”.

Nhưng trái với nhiều du học sinh tài năng khác, sau khi tốt nghiệp Stanford năm 2013, Phạm Kim Hùng từ bỏ tất cả cơ hội tại Mỹ để về nước khởi nghiệp. Năm 2016, Phạm Kim Hùng sáng lập ra Base.vn, đây là nền tảng SaaS đầu tiên trong khu vực được xây dựng để thống nhất quá trình quản trị và điều hành doanh nghiệp từ nhân sự, quản lý công việc, quản trị tài chính cho đến sales-marketing, hiện có 3000 khách hàng doanh nghiệp trong nước.

Giữa năm 2019, Base gọi vốn thành công từ quỹ Nextrans Hàn Quốc, quỹ thứ 5 tham gia đầu tư vào startup công nghệ này sau Beenext, Alpha JWC, VIISA và 500 Startup. Trước đó Base công bố đã nhận được 1,7 triệu USD sau 2 lần gọi vốn đầu tiên và đang dừng lại ở vòng Pre-Serie A.

Chúng tôi đã có dịp trò chuyện với Nhà sáng lập kiêm CEO Base Phạm Kim Hùng để hiểu rõ hơn về nền tảng SaaS, cách thức vận hành của các phần mềm quản trị doanh nghiệp, cũng như những dự định mà đội ngũ startup này đang ấp ủ trong tương lai.

Đi tìm lời giải tốt hơn cho những bài toán hiện tại

nền tảng quản trị

Anh Phạm Kim Hùng – sáng lập kiêm CEO BASE Enterprise.

* PV: Chào anh Hùng. Base đã trở thành nền tảng SaaS phục vụ 3.000 khách hàng doanh nghiệp, gọi được vốn hàng triệu đô từ 5 quỹ đầu tư đình đám chỉ sau 3 năm thành lập. Anh có thể chia sẻ rõ hơn về SaaS, cũng như ý tưởng cho nền tảng Base.vn đã đến với anh như thế nào?

– Anh Phạm Kim Hùng: SaaS, viết tắt của Software-as-a-Service – dịch vụ phần mềm, thực ra là một khái niệm đã phổ biến trên thế giới từ nhiều năm nay. Điểm đặc biệt quan trọng của SaaS là tập trung giải quyết những bài toán kinh điển, nhằm tìm ra lời giải tốt hơn cho người dùng thay vì đi tìm một bài toán mới hoặc cố gắng hình thành nên một nhu cầu mới trong xã hội.

Các bài toán mà doanh nghiệp gặp phải cũng tương tự vậy, nó là những “nỗi đau” đã tồn tại nhiều năm nhưng vẫn chưa có một lời giải tối ưu nào. Chúng ta sẽ không quẩn quanh trong câu chuyện khách hàng gặp vấn đề gì, bởi vì vấn đề thì ai cũng thấy rõ, chỉ là liệu có lời giải nào tốt hơn cho những bài toán hiện tại hay không? Chúng ta cần tập trung vào việc làm sao để mang lại giá trị nhiều hơn cho khách hàng.

Với B2B SaaS thì càng không phải là những phần mềm đánh vào cảm xúc hoặc khơi gợi sự tò mò thích thú. Chúng ta cần bàn đến câu chuyện: Vậy thì rốt cục nó giải quyết được vấn đề gì, tháo gỡ được khó khăn nào của doanh nghiệp, thậm chí nó giúp họ tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, tối đa được bao nhiêu nguồn lực, có giúp doanh nghiệp tăng trưởng tốt hơn không?

Đó là những câu hỏi khởi nguồn cho ý tưởng hình thành nên nền tảng Base, và chúng tôi được quyền nghĩ nhiều hơn về những giá trị mình mang lại.

* Thú thực với anh là tôi và có lẽ nhiều người vẫn chưa hiểu nhiều về mô hình nền tảng quản trị cho doanh nghiệp. Anh giải thích một cách dễ hiểu hơn về mô hình này được không?

– Nền tảng quản trị chính là việc chúng ta nhìn nhận các bài toán quản trị một cách khoa học và có tính hệ thống, nó không xuất phát từ những vấn đề mang tính tình huống, nảy sinh bất chợt hàng ngày, cũng không đi theo tư duy là gặp đến đâu giải quyết đến đó.

Tư duy nền tảng chính là việc chúng ta cần hoạch định cụ thể những thứ doanh nghiệp gặp phải là gì, những bài toán nào là quan trọng và căn bản, những vấn đề nào là cốt lõi và thứ yếu, sau đó lựa chọn những gì cần “fix” (sửa chữa – PV) một cách có logic ngay từ đầu.

Khi chúng ta hình dung được cả vòng đời của một doanh nghiệp sẽ gặp phải những bài toán gì, thì nền tảng quản trị về công nghệ chính là việc mô hình hóa, cụ thể hóa những bài toán đó thành những sản phẩm tương ứng, để doanh nghiệp có thể áp dụng hiệu quả cho từng giai đoạn tăng trưởng.

* Có nghĩa là chúng ta cần tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn tổng thể, nếu vậy sẽ có một giải pháp All-in-one (tất cả trong một – PV) hay vẫn cần nhiều giải pháp cho từng vấn đề cụ thể, thưa anh?

– Đòi hỏi một giải pháp all-in-one như bạn nói chính là sai lầm của nhiều người, và cũng là “nỗi đau” của nhiều chủ doanh nghiệp.

Chúng ta tiếp cận dưới góc nhìn tổng thể, nhưng khi giải quyết thì phải thật chuyên sâu. Bởi vì, một doanh nghiệp có cả ngàn vấn đề cần phải giải quyết, bất kỳ lãnh đạo nào cũng mong muốn rằng vấn đề đó một khi đã “fix” thì phải được giải quyết một cách triệt để, để về sau họ không cần phải bận tâm.

Tôi cho rằng phải có một phương pháp luận đúng, một cách thức đúng ngay từ đầu, thay vì làm theo kinh nghiệm, theo bản năng hoặc những thứ chỉ đúng trong phạm vi mà chúng ta có thể nhìn thấy. Bởi nếu chúng ta làm sai, vừa làm vừa sửa, sửa mãi vẫn không sửa được thì doanh nghiệp sẽ lãng phí rất nhiều nguồn lực và thời gian.

Khi làm theo một phương pháp luận đúng kết hợp với một công cụ hiệu quả thì mọi thứ sẽ vận hành hiệu quả. Nếu thiếu một trong 2 thì nó đều có thể mang đến rủi ro.

Tất cả chúng ta đều nhận thức được: Để giải quyết vấn đề dưới góc nhìn tổng thể thì chúng ta phải giải quyết triệt để từng bài toán nhỏ một cách chuyên sâu.

Không có thứ gọi là “giải pháp tổng thể” khi bàn đến tính hiệu quả của phần mềm B2B SaaS, một sản phẩm mà có tất cả mọi thứ, thì nó đã sai về mặt phương pháp luận rồi. Còn “nền tảng tổng thể” là gì, là mình xây dựng một hệ sinh thái mà trên đó có tất cả mọi thứ. Chúng ta có thể sử dụng độc lập những ứng dụng trên nền tảng nhưng cũng có thể kết nối chặt chẽ bất cứ lúc nào cần. Chúng ta đừng nhầm lẫn giữa khái niệm: Giải pháp tổng thể và Nền tảng tổng thể.

Chúng tôi không gói gọn Base trong một sản phẩm, chúng tôi đi xây dựng một hệ sinh thái, tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn tổng quan, nhưng chọn cách giải quyết triệt để và chuyên sâu từng bài toán.

*  Tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn tổng quan, nhưng chọn cách giải quyết triệt để và chuyên sâu từng bài toán

– Có phải đó là lý do Base có rất nhiều các ứng dụng khác nhau trên cùng một nền tảng chung?

– Đúng vậy. Việc tạo ra nhiều ứng dụng là cách tiếp cận rất chủ động của chúng tôi. Bản chất ở đây là khi khách hàng tìm đến một giải pháp công nghệ, họ phải biết được họ đang gặp bài toán nào. Sở dĩ, phát triển sản phẩm theo hướng này xuất phát từ mục đích: Để khách hàng lựa chọn sử dụng công nghệ từ chính những “nỗi đau” của họ, chứ chúng tôi không phát triển một giải pháp tổng thể chung chung.

Mặt khác, mỗi một giai đoạn khác nhau, mỗi một quy mô khác nhau doanh nghiệp đều sẽ gặp phải những bài toán riêng của họ. Có những bài toán mà thời điểm này họ chưa gặp, phải 3 năm hoặc 5 năm sau họ mới gặp thì không có lý gì chúng ta gộp chung tất cả đưa vào một sản phẩm, rồi bán cho khách hàng trong khi họ chưa cần dùng tới. Thực tế cũng chứng minh rằng tất cả những nỗ lực mà chúng ta tiếp cận khách hàng theo hướng là một giải pháp All-in-one thì đều không hiệu quả.

Tôi cho rằng việc tạo ra nhiều ứng dụng có tính chuyên môn hóa cao trên một nền tảng tổng thể có khả năng kết nối vô hạn sẽ giúp khách hàng có thể giải quyết lần lượt từng bài toán, sau đó vẫn có thể tích hợp mọi thứ họ muốn trên một nền tảng chung. Có nghĩa là việc tích hợp không giới hạn trong khả năng của Base mà nằm trong khả năng tưởng tượng của khách hàng.

* Đó là những khách hàng đã xác định được bài toán của họ, vậy còn những doanh nghiệp chưa tự xác định được bài toán của mình hoặc không thực sự hiểu rõ mình nên làm gì ở bước tiếp theo thì sao, bởi công nghệ B2B SaaS mới chỉ phổ biến vài năm gần đây và khái niệm chuyển đổi số còn mơ hồ trong tư duy của rất nhiều người?

– Đây là điều mà chúng tôi cần nỗ lực để làm, giúp khách hàng hiểu được cụ thể bài toán mà họ gặp phải. Tôi biết B2B SaaS còn là thuật ngữ mới mẻ ở Việt Nam. Nhưng không có nghĩa rằng vì mới, nên chúng ta tiếp cận theo hướng chúng ta được quyền sai. Vì rõ ràng thế giới đã trải qua giai đoạn thử sai, nhiều người đi trước đã rút ra được cách tối ưu nhất. Vậy thì không lý gì chúng ta lại dẫn dắt khách hàng đi vào sai lầm nữa, để rồi sau họ phải “đập đi xây lại”, phải chuyển qua một sản phẩm khác. Điều này không tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp.

Mong muốn của chúng tôi là dẫn dắt dắt khách hàng lựa chọn được những thứ tốt nhất và phù hợp nhất ngay từ đầu, không chỉ để giải quyết cho những bài toán hiện tại đang gặp phải mà là cho 3 năm 5 năm tiếp theo. Mình phải làm sao để họ trở thành những người “master” trong lĩnh vực của họ, thay vì họ phải tiếp cận một thứ rất chung chung.

Và nó là sự nỗ lực của cả hai phía, bản thân khách hàng họ cũng phải nỗ lực để hiểu họ cần gì và công nghệ nào có thể giúp họ giải quyết những vấn đề đó một cách tốt nhất.

Công nghệ tốt sẽ làm thay đổi thói quen, lối tư duy và phong cách làm việc của cả doanh nghiệp

* Trong thời đại 4.0, công nghệ hẳn nhiên có thể thay đổi cách thức một doanh nghiệp vận hành. Vậy đâu là yếu tố để lựa chọn một công cụ hiệu quả đối với doanh nghiệp?

nền tảng quản trị– Thực ra, bước đầu tiên chúng ta nên đặt ra một kỳ vọng đúng mực rằng công nghệ đơn thuần chỉ là công cụ để hỗ trợ chúng ta làm việc hiệu quả hơn. Bước thứ hai chúng ta mới kỳ vọng công nghệ có thể thay đổi cách thức vận hành của một doanh nghiệp.

Một công nghệ tốt khi chúng ta sử dụng hiệu quả, thì nó không chỉ là công cụ nữa, mà nó đi vào đời sống hàng ngày của doanh nghiệp, làm thay đổi thói quen, cách nghĩ, lối tư duy, và phong cách làm việc của cả một doanh nghiệp.

Đơn cử như thế này, trước đây khi doanh nghiệp vẫn còn sử dụng bảng tin để dán tất cả các thông báo quan trọng lên đó, việc tiếp cận thông tin trở nên khó khăn chưa kể khả năng lan tỏa thông tin cũng hạn chế. Doanh nghiệp mong muốn sử dụng một kênh giao tiếp nội bộ giống như Base Inside để thông tin được truyền tải nhanh hơn và có thể tiếp cận đến từng người. Nhưng khi sử dụng thành thạo công cụ rồi, chúng ta sẽ nghĩ đến việc làm thế nào để sản xuất ra một nội dung hấp dẫn trên “bảng tin online”, làm thế nào để thông điệp trở nên sinh động và có thể visual hiệu quả dưới dạng hình ảnh… Rõ ràng nó làm thay đổi cách chúng ta tư duy.

Còn làm sao để chúng ta chọn được một công cụ hiệu quả, có 3 lưu ý mà tôi muốn nhấn mạnh:

Thứ nhất là khả năng Usability: tức là tính khả dụng của sản phẩm, nói một cách đơn giản thì nó chính là sự tiện lợi và dễ dàng, mọi người đều có thể áp dụng nó để mang lại hiệu quả cho công việc. Thậm chí yếu tố này còn quan trọng hơn mong muốn của ban lãnh đạo, bởi vì nếu không ai sử dụng được thì sẽ không có gì xảy ra tiếp theo

Thứ hai là tính Specialization: tính chuyên môn hóa cao, nó phải đáp ứng một cách rất chuyên sâu và đi vào nghiệp vụ cũng như công việc hàng ngày, nó phải giải quyết trọn vẹn và tối ưu một bài toán cụ thể.

Thứ ba là tính Highly connected: nghĩa là ứng dụng đó phải có khả năng kết nối với các sản phẩm khác, nó cho phép mở rộng và tích hợp khi cần thiết

* Anh có kế hoạch phát triển cho công ty trong khoảng 3 năm tới như thế nào?

– Đây là câu hỏi gắn với tương lai của Base, trong công ty mọi người cũng nói về nó rất nhiều. Tựu trung lại có 5 bài toán chính mà doanh nghiệp cần quan tâm:

Thứ nhất là quản lý hiệu quả các luồng thông tin;

Thứ hai là đảm bảo dòng chảy công việc được thông suốt;

Thứ ba là giải quyết bài toán về con người;

Thứ tư là thúc đẩy sự tăng trưởng về mặt khách hàng;

Cuối cùng là việc làm sao để ban lãnh đạo có thể điều hành hiệu quả.

Tất cả các sản phẩm mà Base xây dựng đều xoay quanh 5 trụ cột chính này.

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại một điều: Công nghệ có thể tạo ra giá trị nằm ngoài tưởng tượng của chúng ta. Để dễ hiểu thì chúng ta hãy hình dung đến câu chuyện của Grab. Cách đây vài năm, khi Grab vào Việt Nam, đơn thuần mọi người chỉ nghĩ nó là một ứng dụng gọi xe. Nhưng bây giờ hãy nhìn xem, nó thay đổi toàn bộ cuộc sống của chúng ta.

Điều tôi mong muốn là có một thứ tương tự như thế làm thay đổi toàn diện cách thức vận hành và đời sống của doanh nghiệp. Công nghệ quyền lực hơn chúng ta nghĩ, rất nhiều sản phẩm của Base khi khách hàng sử dụng nó mang lại hiệu quả không ngờ, theo một cách thức mà mình cũng không ngờ tới.

* Cảm ơn những chia sẻ của anh!

Nguồn: Cafebiz.vn

 

Hiện nay, các doanh nghiệp đang hường tới sử dụng các phần mềm dạng dịch vụ để tối ưu hiệu quả. Quý doanh nghiệp vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn!

phần mềm phân phối

Đã đến lúc ứng dụng công nghệ trong quản trị kênh phân phối

Theo Philip Kotler “cha đẻ” của marketing hiện đại “Kênh phân phối được coi là đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng”. Quản trị kênh phân phối tốt sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế của mình và kinh doanh hiệu quả.

Kênh phân phối là một tổ chức hệ thống các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp nhằm quản lý các hoạt động phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trên thị trường.

Vai trò của kênh phân phối tập trung vào: thoả mãn nhu cầu của thị trường; giúp nhà sản xuất kịp thời chỉnh sửa các hoạt động marketing; tạo liên kết với khách hàng; là công cụ giúp công ty đứng vững trên thị trường; giúp nhà sản xuất nắm bắt kịp thời những thông tin cần thiết về thị trường và yêu cầu của khách hàng về sản phẩm.

Trong khi đó, quản trị kênh phân phối là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động luân chuyển sản phẩm trong kênh phân phối nhằm đảm bảo quy trình vận động của hàng hoá từ sản xuất đến người tiêu dùng, từ đó có những kế hoạch phân phối sản phẩm hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường và hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.

Việc quản trị kênh phân phối có ý nghĩa quan trọng, giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng nhanh nhất, tăng doanh thu. Bên cạnh đó kênh phân phối là yếu tố quan trọng để nhà đầu tư hay đối tác đánh giá vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế của mình trong thị trường.

Doanh nghiệp Việt, đặc biệt SME chưa đầu tư đúng mức vào DMS 

Hiện tại, DMS đang được nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm ứng dụng nhưng đa số là các doanh nghiệp lớn. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) chưa có cái nhìn và đầu tư đúng đắn vào lĩnh vực này.

“Tôi thấy nhiều doanh nghiệp SME vẫn quản lý thủ công bằng sổ sách hay các phần mềm cơ bản như Exel. Việc này dẫn đến việc tốn thời gian báo cáo, thống kê và xử lý thông tin, chiếm dụng nhân lực kế toán, quản lý kho, giảm thời gian tương tác với khách hàng, giảm năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ DMS”, ông Nguyễn Minh Hoàng, cố vấn kinh doanh chiến lược của nhiều start-up nhận định.

Còn ông Tạ Thanh Long, CEO của của BKHub chia sẻ: “Xu hướng ứng dụng công nghệ trong quản trị DMS ngày càng lớn mạnh khi nhận thức của doanh nghiệp Việt đã rõ ràng hơn. Trong kỷ nguyên 4.0 và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, nếu không sớm ứng dụng DMS vào quản trị thì doanh nghiệp sẽ tụt hậu so với đối thủ”.

Tuy nhiên, theo ông Long, doanh nghiệp Việt vẫn lúng túng khi lựa chọn các giải pháp, công nghệ phù hợp vì chi phí vẫn là rào cản. Ngoài các phần mềm của quốc tế giá cao, khó tiếp cận thì các phần mềm trong nước vẫn khá lạc hậu, tốc độ chậm, khả năng mở rộng quy mô khi cần chưa nhiều, đặc biệt là tùy biến tối ưu cho từng doanh  nghiệp.

Ứng dụng công nghệ vào quản trị kênh phân phối – cơ hội của ứng dụng Việt

Trong kỷ nguyên 4.0, ứng dụng phần mềm vào công tác quản lý nhằm tối ưu hoá và tăng hiệu suất công việc đang là một xu hướng được nhiều doanh nghiệp quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ vào quá trình quản trị kênh phân phối giúp cho hoạt động quản lý được dễ dàng và đạt hiệu quả tốt hơn.

Tùy vào mục đích thiết kế kênh là để phát triển, mở rộng tại những khu vực thị trường mới hay để hoàn thiện hệ thống kênh hiện tại mà người quản lý sẽ có những quyết định quản lý kênh riêng. Ví dụ, đối với những doanh nghiệp nhỏ mới ra thị trường, giai đoạn đầu họ sẽ chỉ khởi điểm với một thị trường giới hạn nhất định.

Nguyên nhân, doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế về vốn – khả năng quản lý nên họ phải lựa chọn những kênh phân phối có sẵn mà không thể thiết lập được hệ thống phân phối riêng. Kênh phân phối mà họ chọn thông thường chỉ bao gồm vài nhân viên bán hàng, nhà phân phối (bán buôn), kết hợp với một số đại lý bán lẻ và có thể là doanh nghiệp vận chuyển.

Tuy nhiên, một thực tế dễ gặp phải trong cách quản trị kênh phân phối hiện nay của các doanh nghiệp là quản lý thủ công thông qua sổ sách, giấy tờ, file excel hay sử dụng những công cụ không chuyên như zalo, viber, skype, messenger… Điều này thường gây ra tình trạng:

  • Quy trình xử lý đơn hàng kéo dài, từ khâu tiếp nhận tại nhà phân phối/điểm bán đến khi xét duyệt và giao hàng;
    Kiểm soát thiếu đồng bộ, dữ liệu không gắn với từng điểm bán dẫn đến khó theo dõi;
  • Nhân viên bán hàng mất nhiều thời gian giới thiệu sản phẩm mới, kiểm hàng tồn kho, báo cáo các chương trình trade marketing;
  • Không có sự kết nối giữa nhà sản xuất – điểm bán – nhân viên bán hàng.

Nhiều người cho rằng, chỉ có những doanh nghiệp lớn mới phải áp dụng các giải pháp công nghệ vào quản lý phân phối nhưng đây là suy nghĩ sai lầm. Doanh nghiệp nhỏ, hệ thống phân phối còn chưa phức tạp, nếu áp dụng công nghệ sớm không chỉ góp phần thúc đẩy quá trình bán hàng mà còn tạo tiền đề cho việc quản lý sau này, khi kênh phân phối mở rộng.

Bên cạnh đó, các nhà sản xuất và phân phối thường gặp thách thức trong việc quản lý kênh phân phối hiệu quả, quản lý công tác bán hàng, cải thiện năng suất đội ngũ sales, thực thi và đánh giá các chương trình trưng bày, khuyến mãi, POSM… tại điểm bán. Họ lãng phí không ít thời gian lẫn nguồn lực, “vùi” trong mớ báo cáo thủ công vừa chậm trễ, vừa thiếu chính xác nên khó đưa ra chiến lược kinh doanhđúng đắn và kịp thời.Rất may là hiện tại, đã có một vài doanh nghiệp trong nước cung cấp giải pháp DMS trên nền tảng điện toán đám mây (Cloud DMS), các doanh nghiệp sản xuất – phân phối thời 4.0 đã có cơ hội đạt quyền kiểm soát 100% dữ liệu trong chuỗi cung ứng.

Hiện tại, đã có một vài doanh nghiệp trong nước cung cấp giải pháp DMS trên nền tảng điện toán đám mây (Cloud DMS), các doanh nghiệp sản xuất – phân phối thời 4.0 đã có cơ hội đạt quyền kiểm soát 100% dữ liệu trong chuỗi cung ứng.

Qua ứng dụng DMS thông minh trên thiết bị di động, toàn bộ quy trình bán hàng được tự động hóa, giúp lực lượng sales loại bỏ thao tác thủ công, giảm sai sót và chia sẻ dữ liệu kinh doanh tức thời về trụ sở. Chỉ cần ngồi ở văn phòng, cấp lãnh đạo vẫn nắm bắt trực quan thị trường 24/7 bởi doanh số từng mặt hàng, ngành hàng, tồn kho, độ phủ, thông tin đối thủ cạnh tranh, hiệu quả trade marketing, trưng bày, khuyến mãi… đều được “số hóa” và gửi về hệ thống theo thời gian thực (real-time).

Nguồn: Báo Đầu tư BĐS online

 

Hiện nay, các doanh nghiệp đang dần sử dụng các phần mềm giải pháp doanh nghiệp để tối ưu hiệu quả quản lý. Data V Tech trân trọng là đơn vị uỷ quyền của Tập đoàn Phần mềm Epicor, tư vấn, cài đặt ứng dụng công nghệ này tại châu Á – Thái Bình Dương. Quý doanh nghiệp vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn!

dự án cộng đồng

23 năm triển khai các dự án cộng đồng của Microsoft tại Việt Nam

Với 23 năm tại Việt Nam, Microsoft đã hỗ trợ kỹ thuật, phần mềm, điện toán đám mây và tài trợ cho các dự án cộng đồng với tổng trị giá hơn 23 triệu USD.

Gia nhập thị trường kể từ khi Internet lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam năm 1997, đến nay sau hơn hai thập kỷ, Microsoft đã góp phần to lớn làm thay đổi cuộc sống người dân và đồng hành đưa công nghệ phủ khắp mọi khía cạnh cuộc sống bằng các hoạt động xã hội.

Cụ thể, Microsoft đã trao tặng và hỗ trợ kỹ thuật, phần mềm, điện toán đám mây cho Việt Nam với tổng trị giá hơn 20 triệu USD. Ngoài ra, doanh nghiệp còn hỗ trợ ngân sách hơn 3 triệu USD cho hơn 100 tổ chức phi lợi nhuận triển khai các dự án nâng cao kỹ năng số cho thế hệ tương lai.

 

23 năm triển khai các dự án cộng đồng của Microsoft tại Việt Nam

 

Với hàng loạt sáng kiến và đóng góp tầm quốc gia, 5 năm liên tiếp Microsoft Việt Nam được Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) vinh danh doanh nghiệp “Cống hiến Vì cộng đồng”. Mới đây nhất, đích thân Đại sứ Mỹ Daniel J. Kritenbrink đã trao giải thưởng cho Microsoft với sáng kiến: Xây dựng phần mềm quản lý rủi ro thảm họa trong thời đại 4.0 cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Dự án “Ứng phó Thảm họa” được Microsoft tư vấn kỹ thuật và tài trợ 2,2 tỷ đồng triển khai từ năm 2017. Phần mềm sử dụng các công nghệ lõi của Microsoft, tích hợp cả trên điện thoại di dộng lẫn nền tảng web. Vào đầu mùa mưa lũ, app được đưa vào triển khai thí điểm tại 9 tỉnh thành trọng điểm thiên tai, trở thành trợ thủ đắc lực cho hàng nghìn cán bộ đội ứng phó thảm họa từ cấp xã huyện đến Trung ương.

 

23 năm triển khai các dự án cộng đồng của Microsoft tại Việt Nam

 

“Ứng phó Thảm họa” giúp tổng hợp thông tin, đánh giá nhanh thảm hoạ, cảnh báo theo từng cấp và truyền tin “cấp tốc” về TW Hội Chữ thập đỏ. Đồng thời, kích hoạt các thành viên Đội phản ứng nhanh thông qua email, tin nhắn và phần mềm nhằm nhanh chóng huy động nhân lực đối phó với bão lũ.

Ứng dụng cũng cho phép Hội Chữ thập đỏ tra cứu các hộ gia đình dễ tổn thương nằm trong vùng thiên tai thảm hoạ; sau đó định vị các thành viên đội phản ứng nhanh để điều động khẩn cấp đến cứu hộ cứu nạn nhanh nhất, góp phần giảm thiệt hại về người và của.

Điểm thú vị của ứng dụng còn nằm ở nền tảng mở, cho phép người dân tải phần mềm về điện thoại theo dõi thông tin. Thông qua đó, nhiều bà con vùng thường xuyên xảy ra bão lũ đã kịp thời tiếp nhận thông tin dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai thảm hoạ… được cập nhật tự động từ các nguồn tin uy tín của Chính phủ.

23 năm triển khai các dự án cộng đồng của Microsoft tại Việt Nam

“Không để ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số hóa” – luôn là sứ mệnh quan trọng hàng đầu của Microsoft tại Việt Nam. Mặc dù chưa ai có thể dự đoán được chính xác tương lai sẽ thế nào trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, song một điều chắc chắn là cuộc cách mạng này sẽ làm thay đổi nhu cầu kỹ năng của lực lượng lao động hiện có.

Bằng cách đẩy mạnh các hoạt động đào tạo miễn phí, Microsoft đang góp phần nâng cao năng lực làm việc cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại kỷ nguyên số. Năm 2018, Microsoft cũng được AmCham vinh danh với dự án YouthSpark phối hợp với Bộ Giáo dục Đào tạo thực hiện từ năm 2016 đến 2018, mang công nghệ đến với gần 200.000 thanh thiếu niên 12 tỉnh vùng sâu vùng xa và thu hút 1.700 giáo viên tham gia tập huấn.

Tiếp nối thành công, năm học 2018-2019, Microsoft mở rộng dự án cho phép học sinh trên cả nước tiếp cận với các khóa học trực tuyến Tin học ứng dụng – Khoa học máy tính, cũng như các khóa học bồi dưỡng kiến thức và phương pháp giảng dạy online cho giáo viên. Trên hành trình phổ cập công nghệ, Microsoft cũng truyền cảm hứng theo đuổi ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) cho hơn 4.000 nữ sinh, góp phần giảm bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này.

Các dự án thể hiện trách nhiệm xã hội của Microsoft đều được AmCham đánh giá cao ở 4 khía cạnh. Đó là: Cân bằng mục tiêu kinh doanh và nhu cầu xã hội; Tạo ra lợi ích kinh tế và xã hội lâu dài; Truyền thông và chia sẻ thực tiễn tốt nhất; Đảm bảo tính bền vững lâu dài.

Chia sẻ về mục tiêu xã hội lâu dài, ông Phạm Thế Trường – Tổng Giám Đốc Microsoft Việt Nam cho biết: “Tại Microsoft, chúng tôi hướng đến một tương lai bền vững cho Việt Nam. Sự bền vững đến từ việc xây dựng, bảo vệ và giáo dục, thông qua công nghệ. Chúng tôi tin rằng, Microsoft chỉ thực sự thành công khi Việt Nam có thể vững bước trên hành trình chuyển đổi số trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 này. Và điều đó đòi hỏi sự đồng hành của chính phủ, đối tác, các tổ chức phi lợi nhuận và cả cộng đồng”

Nguồn: Nguyễn Minh (tổng hợp)

Ứng dụng công nghệ trong các hoạt động của Điện lực Hòn Đất

(Chinhphu.vn) – Trong thời gian qua, bên cạnh việc bố trí nguồn nhân lực tập trung thì Điện lực Hòn Đất (Kiên Giang) còn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm mới trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành, sản xuất hoạt động kinh doanh, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần tạo môi trường làm việc “Thân thiện – Chuyên nghiệp – Minh bạch”.
công nghệ điện lực
Nhân viên CSKH, Phòng giao dịch Điện lực Hòn Đất hướng dẫn khách hàng thực hiện giao dịch ZaloPay qua điện thoại di động – Ảnh: Thanh Anh

 

Theo đó, Điện lực Hòn Đất đã quan tâm thực hiện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức của các cá nhân, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các văn bản quy định của Chính phủ, của ngành liên quan đến lĩnh vực điện năng. Tiếp tục thực hiện niêm yết các thủ tục cải cách hành chính tại bộ phận một cửa của đơn vị. Tại phòng giao dịch, đơn vị đã trang bị hệ thống tivi, máy vi tính, pano, tờ rơi tuyên truyền nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ những thông tin mà khách hàng quan tâm.

Nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho khách hàng khi giao dịch, tránh nợ đọng kéo dài, Điện lực Hòn Đất đã phối hợp với các ngân hàng, các đối tác thu hộ triển khai nhiều hình thức thanh toán tiền điện như: Thanh toán tiền mặt tại phòng giao dịch của Viettel, bưu cục hay chuyển khoản các ngân hàng liên kết; thanh toán tiền điện qua hình thức ZaloPay với nhiều ưu đãi mà không phát sinh thêm bất kỳ khoản chi phí nào của khách hàng nên khá tiện lợi cho người dùng.

Trước đây, việc lưu trữ hồ sơ mua và bán điện của khách hàng chiếm quá nhiều diện tích, còn việc tìm kiếm thông tin khách hàng được làm thủ công mất rất nhiều thời gian và dễ nhầm lẫn thông tin, còn hiện nay, việc thực hiện giao dịch trở nên nhanh gọn, tạo nguồn dữ liệu dễ khai thác, phân tích trên phần mềm quản lý, tiềm kiếm thông tin tiện lợi.

Với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ, Điện lực Hòn Đất đã đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động, nhờ đó hoạt động kinh doanh tại đơn vị được cải thiện đáng kể, nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm tối đa thời gian mất điện của khách hàng. Điện lực Hòn Đất hiện đang bán điện cho 47.816 cá nhân, hộ gia đình, đơn vị, doanh nghiệp, việc thực hiện các hợp đồng mua, bán điện bằng hình thức giao dịch điện tử đã rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, nguồn nhân lực.

Ông Chu Quốc Quân, Phó Giám đốc Điện lực Hòn Đất cho biết: “Tính đến thời điểm này, đơn vị đã thực hiện đồng bộ, nâng cấp đường truyền internet, bảo đảm triển khai các phần mềm ứng dụng như: Hệ thống quản lý khách hàng dùng điện, tài chính-ngân sách, vật tư, cấp điện mới,… Với hình thức thanh toán đa dạng, khách hàng tiết kiệm được thời gian, chủ động trong công việc, tránh được trường hợp bị cắt điện vì để nợ quá hạn nên được khách hàng ủng hộ.

Hiện nay, trên mạng xã hội có phần mềm ứng dụng ZaloPay của Tổng công ty Điện lực miền Nam, tại đây, khách hàng có nhu cầu có thể tải phầm mềm này về sử dụng rất tiện ích. Từ việc thanh toán tiền điện, thông báo ngừng cấp điện, mua điện mới… đều có thông tin chi tiết, giúp tiết kiệm thời gian đi lại của khách hàng, tránh nhũng nhiễu, phiền hà cũng như tránh việc lạm dụng ngân quỹ từ cán bộ thu, nộp”.

Tính đến tháng 11/2019, Điện lực Hòn Đất đã và đang triển khai thay thế công tơ điện tử tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Đến nay, đã có 4.731 công tơ khách hàng của 18 trạm biến áp công cộng được thay thế bằng công tơ điện tử PLC, RF và thực hiện ghi chỉ số qua hệ thống đo xa tự động. Từ tháng 11/2014 đến tháng 11/2019, Điện lực Hòn Đất đã triển khai và thực hiện chương trình ghi chỉ số và gạch nợ qua điện thoại di động, in trực tiếp giấy báo tiền điện cho khách hàng, giúp người dùng dễ dàng giám sát được chỉ số điện năng, hoàn toàn bảo đảm tính chính xác và minh bạch…

Đối với đơn vị kinh doanh điện năng, công tơ điện tử đo xa giúp cho khách hàng biết về thông tin lịch ngừng giảm cung cấp điện, chỉ số điện, điện năng tiêu thụ, số tiền điện qua tin nhắn SMS, email và kiểm soát được lượng điện tiêu thụ, phát hiện được sản lượng điện bị thất thoát. Từ đó, có kế hoạch đầu tư phù hợp hiệu quả trong cung cấp điện; tránh được sai sót trong công tác ghi chỉ số.

Ông Nguyễn Văn Của, Trưởng phòng Kinh doanh, Điện lực Hòn Đất cho biết thêm: “Hiện nay, Điện lực Hòn Đất đã và đang sử dụng phầm mềm CMIS 3.0. Đây là hệ thống phần mềm lõi, là nền tảng trong hỗ trợ kinh doanh, dịch vụ khách hàng của EVN. Phầm mềm CMIS 3.0 còn được tích hợp tốt với các hệ thống ứng dụng và các kho dữ liệu như phần mềm chăm sóc khách hàng CRM, các cổng thanh toán và thanh toán điện tử, phần mềm quản lý kỹ thuật… Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị”.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách linh hoạt, hiệu quả đã giúp Điện lực Hòn Đất thực hiện tiết kiệm được nguồn nhân lực, chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu xuất công việc, góp phần thực hiện cải cách thủ tục hành chính, nhất là tạo được sự hài lòng cho khách hàng.

Nguồn: Thanh Anh

công nghệ IoT

Công nghệ IoT giúp nâng cao đáng kể chứ năng phần mềm ERP

Công nghệ IoT  hay Internet vạn vật là gì?

Trong những năm qua, công nghệ IoT (Internet vạn vật) bùng nổ, mang đến nhiều thay đổi tích cực đối với giải pháp phần mềm ERP. Từ việc tăng cường dịch vụ khách hàng để giúp các công ty theo dõi và đánh giá dữ liệu dễ dàng hơn, IoT đã phát triển đáng kể chức năng phần mềm ERP nói riêng cũng như phương thức vận hành kinh của doanh nghiệp nói chung.  IoT là thuật ngữ được sử dụng cho hàng tỷ thiết bị vật lý trên khắp thế giới được kết nối với Internet, thu thập và chia sẻ dữ liệu. Các thiết bị này có thể là điện thoại thông minh, màn hình ứng dụng đo nhịp tim, tủ lạnh, máy giặt, máy pha cà phê, ô tô và nhiều thứ khác.

 

Vai trò của IoT trong hệ thống ERP là gì?

Công nghệ IoT làm tăng tính hữu ích và sức mạnh của hệ thống phần mềm ERP, dù là trên nền tảng On-premise hay Cloud. Đó là lý do tại sao các công ty trong tất cả các ngành công nghiệp đều định hướng sang ứng dụng IoT. Ví dụ, trong ngành công nghiệp sản xuất, các công cụ chẩn đoán gắn trên thiết bị và hệ thống quản lý bảo trì trên máy vi tính đảm bảo cung cấp thông tin cho tất cả mọi người, từ các kỹ thuật viên làm việc trên nhà máy đến các giám đốc điều hành cấp cao.

Trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, máy quét cầm tay đã giúp nâng cao chức năng của phần mềm ERP. Thiết bị này giúp theo dõi hàng tồn kho dễ dàng hơn, đồng thời cũng cung cấp dữ liệu cần thiết để dự báo và sản xuất tốt hơn. Điều này đảm bảo sản phẩm luôn sẵn sàng khi khách hàng cần. Việc sử dụng máy quét cầm tay có thể cắt giảm chi phí hành chính.

Smartphone là ví dụ điển hình về việc IoT hỗ trợ ERP một cách đáng kể, nâng cao chất lượng dịch vụ cho cả khách hàng và nhân viên. Nhờ thiết bị di động, việc truy cập thông tin trở nên dễ dàng hơn, tương tác giữa các bên trở nên tốt hơn nhờ thông tin được cung cấp theo thời gian thực. Khách hàng không còn phải chờ đợi để biết sản phẩm còn hàng hay không. Thay vào đó, thông tin này được hiển thị ngay lập tức. Với nhân viên, truy cập dữ liệu qua điện thoại giúp họ giảm thiểu thời gian chết, tăng năng suất công việc.

Có rất nhiều lĩnh vực IoT đã hỗ trợ ERP tăng chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng. Ví dụ: ứng dụng dành cho thiết bị di động cho phép bạn check-in tại các khách sạn, nhà hàng và cửa hàng bán lẻ. Đối với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, IoT giúp công tác chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn. Bác sĩ có thể sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng để xem kết quả xét nghiệm của bệnh nhân, ghi chú của bác sĩ trước đó và lịch sử sử dụng thuốc của người bệnh.

 

IoT ngày càng mang lại sự thuận tiện cho đời sống nói chung và kinh doanh sản xuất nói riêng.  IoT giúp nâng cao chức năng của hệ thống phần mềm ERP, khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp!