số hoá quản trị

Số hóa quản trị kênh phân phối – chìa khóa trong tay doanh nghiệp Việt

“Doanh nghiệp cần mạnh dạn chuyển đối số, ứng dụng công nghệ vào quản trị để tối ưu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh”, ông Tạ Thanh Long, CEO của Shark DMS nhận định.

Vai trò của kênh phân phối tập trung vào việc thoả mãn nhu cầu của thị trường; giúp nhà sản xuất kịp thời chỉnh sửa các hoạt động marketing; tạo liên kết với khách hàng; giúp nhà sản xuất nắm bắt kịp thời những thông tin cần thiết về thị trường và yêu cầu của khách hàng về sản phẩm.

Trong khi đó, quản trị kênh phân phối là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động luân chuyển sản phẩm trong kênh phân phối nhằm đảm bảo quy trình vận động của hàng hoá từ sản xuất đến người tiêu dùng, từ đó có những kế hoạch phân phối sản phẩm hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường và hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.

Việc quản trị kênh phân phối  (DMS) có ý nghĩa quan trọng, được ví như chìa khóa giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng nhanh nhất, tăng doanh thu, giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường.

Hiện tại, DMS đang được nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm ứng dụng nhưng đa số là các doanh nghiệp lớn. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) chưa có cái nhìn và đầu tư đúng đắn vào lĩnh vực này.

“Tôi thấy nhiều doanh nghiệp SME vẫn quản lý thủ công bằng sổ sách hay các phần mềm cơ bản. Việc này tốn thời gian báo cáo, thống kê và xử lý thông tin, chiếm dụng nhân lực, quản lý kho, giảm thời gian tương tác với khách hàng, giảm năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp có ứng dụng công nghệ DMS”, ông Nguyễn Minh Hoàng, cố vấn kinh doanh chiến lược của nhiều start-up nhận định.

Còn theo ông Tạ Thanh Long, CEO của của Shark DMS: “Xu hướng ứng dụng CNTT trong quản trị DMS ngày càng lớn mạnh khi nhận thức của doanh nghiệp Việt đã rõ ràng hơn. Trong kỷ nguyên 4.0 và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, nếu không sớm ứng dụng DMS vào quản trị thì doanh nghiệp sẽ tụt hậu so với đối thủ. Hãy để CNTT tăng tốc cho việc quản trị kênh phân phối”.

Tuy nhiên, theo ông Long, doanh nghiệp Việt vẫn lúng túng khi lựa chọn các giải pháp, công nghệ phù hợp vì chi phí vẫn là rào cản. Ngoài các phần mềm của quốc tế giá cao, khó tiếp cận thì các phần mềm trong nước vẫn khá lạc hậu, tốc độ chậm, khả năng mở rộng quy mô khi cần chưa nhiều, đặc biệt là tùy biến tối ưu cho từng doanh  nghiệp.

Ứng dụng công nghệ vào quản trị kênh phân phối – cơ hội của sản phẩm Việt

Việc ứng dụng CNTT vào quá trình quản trị kênh phân phối giúp cho hoạt động quản lý được dễ dàng và đạt hiệu quả tốt hơn là xu thế đang được nhiều doanh nghiệp đầu tư.

Tùy vào mục đích thiết kế kênh là để phát triển, mở rộng tại những khu vực thị trường mới hay để hoàn thiện hệ thống kênh hiện tại mà người quản lý sẽ có những quyết định quản lý kênh riêng. Ví dụ, đối với những doanh nghiệp nhỏ mới ra thị trường, giai đoạn đầu họ sẽ chỉ khởi điểm với một thị trường giới hạn nhất định.

Tuy nhiên, một thực tế dễ gặp phải trong cách quản trị kênh phân phối hiện nay của các doanh nghiệp là quản lý thủ công thông qua sổ sách, giấy tờ, file excel hay sử dụng những công cụ không chuyên. Điều này thường gây ra tình trạng: Quy trình xử lý đơn hàng kéo dài, từ khâu tiếp nhận tại nhà phân phối/điểm bán đến khi xét duyệt và giao hàng; kiểm soát thiếu đồng bộ, dữ liệu không gắn với từng điểm bán dẫn đến khó theo dõi; nhân viên bán hàng mất nhiều thời gian giới thiệu sản phẩm mới, kiểm hàng tồn kho, báo cáo các chương trình trade marketing; không có sự kết nối giữa nhà sản xuất – điểm bán – nhân viên bán hàng.

Nhiều người cho rằng, chỉ có những doanh nghiệp lớn mới phải áp dụng các giải pháp công nghệ vào quản lý phân phối nhưng đây là suy nghĩ sai lầm. Doanh nghiệp nhỏ, hệ thống phân phối còn chưa phức tạp, nếu áp dụng công nghệ sớm không chỉ góp phần thúc đẩy quá trình bán hàng mà còn tạo tiền đề cho việc quản lý sau này, khi kênh phân phối mở rộng.

Bên cạnh đó, các nhà sản xuất và phân phối thường gặp thách thức trong việc quản lý kênh phân phối hiệu quả, quản lý công tác bán hàng, cải thiện năng suất đội ngũ sales, thực thi và đánh giá các chương trình trưng bày, khuyến mãi, POSM… tại điểm bán. Điều này gây lãng phí thời gian lẫn nguồn lực, “vùi” trong mớ báo cáo thủ công vừa chậm trễ, vừa thiếu chính xác nên khó đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn và kịp thời.

Rất may là hiện tại, đã có một vài doanh nghiệp trong nước cung cấp giải pháp DMS trên nền tảng điện toán đám mây (Cloud DMS), các doanh nghiệp sản xuất – phân phối thời 4.0 đã có cơ hội đạt quyền kiểm soát 100% dữ liệu trong chuỗi cung ứng.

Qua ứng dụng DMS thông minh trên thiết bị di động, toàn bộ quy trình bán hàng được tự động hóa, giúp lực lượng sales loại bỏ thao tác thủ công, giảm sai sót và chia sẻ dữ liệu kinh doanh tức thời về trụ sở. Chỉ cần ngồi ở văn phòng, cấp lãnh đạo vẫn nắm bắt trực quan thị trường 24/7 bởi doanh số từng mặt hàng, ngành hàng, tồn kho, độ phủ, thông tin đối thủ cạnh tranh, hiệu quả trade marketing, trưng bày, khuyến mãi… đều được “số hóa” và gửi về hệ thống theo thời gian thực (real-time).

Đặc biệt hơn nữa với những hệ thống DMS mới còn cho phép khách hàng trực tiếp đặt mua online, biến hệ thống phân phối truyền thống trở thành hệ thống online hoàn toàn và giảm 90% sự tham gia của nhân sự vận hành , thay đổi hoàn toàn chiến lược xây dựng và cách quản trị hệ thống phân phối cũ.

Nguồn:  VTV News

 

Các doanh nghiệp hiện nay đã và đang nhận thức được tầm quan trọng của việc số hoá bộ máy quản trị đặc biệt  là quản trị kênh phân phối. Nếu bạn cũng đang tìm giải pháp cho doanh nghiệp của mình, hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp!

chìa khoá phát triển

Quản trị nguồn nhân lực: Chìa khóa để duy trì sự phát triển bền vững

Một nền kinh kế mạnh là nền kinh tế có những doanh nghiệp mạnh. Một doanh nghiệp mạnh là doanh nghiệp có lực lượng lao động mạnh. Quản trị nguồn nhân lực, với vai trò đặc biệt quan trọng của nhân viên, người lao động, cần được xem xét là ưu tiên hàng đầu của các nhà quản trị.

 

Trao quyền và hỗ trợ

Mô hình quản trị truyền thống thường thấy ở nhiều doanh nghiệp là phân cấp theo thứ tự từ cao xuống thấp. Quyền lực cao nhất và quyền ra quyết định tập trung vào lãnh đạo cao nhất. Các cấp bên dưới thừa hành và chịu trách nhiệm thực thi những mệnh lệnh từ cấp trên.

Tuy nhiên, chúng tôi lại tâm đắc với mô hình hiện đại. Theo đó, nhân viên – những người gần gũi với khách hàng và quá trình sản xuất – kinh doanh nhất, sẽ được đặt ở khu vực cao nhất. Các quản lý cấp cao hơn xếp ở vị trí thấp hơn. Trong mô hình này, nhân viên, quản lý cấp trung sẽ được trao quyền, được quyết định và tự do hành động. Nhà quản lý sẽ hỗ trợ toàn nhóm, với vai trò cố vấn hay huấn luyện viên.

Sở dĩ có sự lựa chọn này bởi chúng tôi cho rằng, nhân viên là những chiến binh nơi tiền tiêu của thương trường. Họ là những người trực tiếp làm ra sản phẩm, chuyển tải các sản phẩm – dịch vụ, nâng cao hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp… tới khách hàng. Họ tâm huyết tạo ra các sản phẩm chất lượng, là mấu chốt quyết định sự hài lòng và tạo dựng quan hệ bền vững giữa khách hàng với doanh nghiệp.

Áp dụng giao việc rành mạch và rõ ràng, cơ chế phân chia lợi nhuận cụ thể, các bộ phận sẽ cố gắng, nỗ lực. Chúng tôi cho rằng, việc của công ty mẹ là hỗ trợ, sát cánh để các chi nhánh có đơn hàng, đào tạo, giúp họ chủ động hạch toán được chi phí, quản trị công việc…

Hàng tháng, Tiểu ban Kiểm soát nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị đều phân tích các nguyên nhân khách quan, chủ quan gây ra lỗi thất thoát của Công ty. Nếu là nguyên nhân chủ quan sẽ truy đến cùng, người làm sai phải chịu bồi thường trách nhiệm vật chất cá nhân, không được hạch toán vào giá thành.

Hệ thống kiểm soát chéo được thiết lập trong nhiều khâu, nhiều đầu việc của doanh nghiệp. Đơn cử, thay vì ủy quyền cho giám đốc chi nhánh tự quyết định lựa chọn, hợp tác với khách hàng, nay TNG chuyển thành Hội đồng đàm phán đơn hàng. Tiểu ban Kiểm soát đứng đầu là thành viên Hội đồng quản trị độc lập, được giao kiểm soát năng lực sản xuất của Công ty hàng tháng trên phần mềm quản trị kinh doanh; theo dõi tiến độ công nợ quá hạn của Công ty; theo dõi chuyển tiền đi, hàng về và hàng đi, tiền về trên hệ thống. Từ đó, phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của Công ty.

Hàng tháng, Hội đồng quản trị đều đánh giá năng lực quản lý điều hành của cán bộ quản lý thông qua kết quả sản xuất – kinh doanh và dự kiến kế hoạch cho tháng kế tiếp của từng chi nhánh. Bộ phận kiểm soát nội bộ, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị, tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra thường kỳ và bất thường đối với các chi nhánh hoạt động chưa hiệu quả, hoặc lĩnh vực có rủi ro cao. Đây là mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại được áp dụng phổ biến trên thế giới, trong khi tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp lớn vẫn còn đang băn khoăn giữa việc đặt bộ phận kiểm soát nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị hay Ban Điều hành.

 

Dụng nhân bằng chính sách thỏa đáng

Vấn đề lớn nhất với doanh nghiệp dệt may, ngành thâm dụng lao động là tập trung vào quản trị hiệu quả. Chọn mô hình tập trung vào nhân viên, người lao động có ưu thế là giúp nhân viên chủ động, phát huy tối đa năng lực, nhưng đội ngũ nhân sự này thường đông và có sự biến động rất lớn, dễ nghỉ việc, nhảy việc.

Do đó, bên cạnh việc đảm bảo thống nhất việc trao quyền cho nhân viên, cung cấp các nguồn lực cần thiết để họ phát triển kỹ năng, đặt niềm tin vào họ, khiến người lao động gắn bó với doanh nghiệp, trước hết họ phải được áp dụng những chế độ tốt.

Yếu tố quan trọng khác trong quản trị nhân lực theo mô hình này là việc truyền thông. Các nhân viên trong mô hình này cần nắm được thông tin và được truyền thông đầy đủ, họ cần hiểu rõ mục tiêu của doanh nghiệp và vai trò của họ trong việc đạt được mục tiêu đó. Bên cạnh đó là truyền thông và thực thi về sự minh bạch hoạt động, phân chia lợi ích rõ ràng, phòng ngừa và ngăn chặn tối đa các hành vi tư lợi trong doanh nghiệp.

 

Hiện nay, các doanh nghiệp đang dần sử dụng các phần mềm giải pháp quản lý nhân sự để tối ưu hiểu quả của quản lý nguồn lao động. Quý doanh nghiệp vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn!

hệ thống thông tin

Bộ LĐTB&XH khai trương hệ thống thông tin kết nối với người dân và DN

Ngày 6/12, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) tổ chức Lễ khai trương Hệ thống Thông tin Bộ với Người dân và Doanh nghiệp.

 

Hệ thống thông tin Bộ với Người dân và Doanh nghiệp được xây dựng tại địa chỉ http://bovoinddn.molisa.gov.vn với 3 mục tiêu chính. Một là, giảm tối đa việc sử dụng văn bản giấy trong việc tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị, hỏi đáp chính sách của người dân, doanh nghiệp, cử tri và Đại biểu Quốc hội; đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan, trung thực. Hai là, lập và quản lý hồ sơ điện tử của các phản ánh, kiến nghị, hỗ trợ công tác quản lý, điều hành của Bộ trong giao tiếp người dân và doanh nghiệp; lập báo cáo thống kê và phân tích phản ánh, kiến nghị phục vụ công tác nghiên cứu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ hàng năm. Ba là, thực hiện kết nối, liên thông Hệ thống với Hệ thống Bộ với Người dân và Doanh nghiệp của Chính phủ, với các đơn vị liên quan phục vụ chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ; tiến tới áp dụng chữ ký số trên Hệ thống Bộ với Người dân và Doanh nghiệp.

Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm Phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025.

Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Lê Quân cho biết, trong năm 2019, Bộ đã trả lời 127 kiến nghị của cử tri chuyển đến Bộ LĐTB&XH trước kỳ họp thứ 7 (tính đến ngày 12/8/2019); trả lời và giải đáp 1.352 câu hỏi chính sách của người dân và doanh nghiệp trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ (tính đến hết tháng 10/2019); ban hành 558 kết luận thanh tra. Bên cạnh đó, Bộ đã thực hiện 2.812 lượt tiếp công dân, trong đó số lượt công dân được Lãnh đạo Bộ tiếp là 364 lượt người.

Thứ trưởng Lê Quân nhấn mạnh, việc ra mắt Hệ thống thông tin Bộ với Người dân và Doanh nghiệp hướng tới mục tiêu gia tăng sự hài lòng của người dân với chất lượng phục vụ tốt nhất. “Việc đưa ứng dụng công nghệ vào xử lý công việc là rất tốt, nhưng quan trọng nhất của một cửa hay liên thông phải dựa vào nền tảng chất lượng, thái độ trong xử lý công việc, thái độ trong tiếp cận, xử lý ý kiến của người dân; thái độ của mỗi cán bộ công chức và lãnh đạo trong việc tiếp nhận, xử lý ý kiến của người dân với tinh thần cầu thị, lắng nghe, chú tâm vào mức độ hài lòng của người dân và sự ổn định phát triển cửa xã hội”, Thứ trưởng Lê Quân khẳng định.

Trong thời gian qua, Bộ đã triển khai tương đối đồng bộ, tổng thể việc ứng dụng công nghệ thông tin, Chính phủ điện tử; triển khai cơ sở dữ liệu trực tuyến toàn diện ở một số lĩnh vực như giáo dục nghề nghiệp, lao động ngoài nước, bảo hiểm xã hội, giảm nghèo, bảo vệ trẻ em… tích hợp dữ liệu điện tử hướng thị trường lao động dựa trên nền tảng công nghệ số.

Với mong muốn thực hiện tốt hơn nữa công tác trên, đồng thời tiếp nhận nhiều ý kiến đóng góp của người dân, doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, ngành; trên cơ sở ứng dụng CNTT, thực hiện cải cách hành chính, minh bạch hóa thông tin, nâng cao hiệu quả công tác điều hành của Lãnh đạo Bộ và các đơn vị trực thuộc, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử, Bộ LĐTB&XH đã chỉ đạo các đơn vị tích cực phối hợp xây dựng phần mềm “Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị người dân, doanh nghiệp, cử tri và Đại biểu Quốc hội thuộc Hệ thống thông tin Bộ với Người dân và Doanh nghiệp”. Phần mềm giúp người dân, doanh nghiệp gửi câu hỏi và nhận kết quả nhanh chóng, thuận tiện; hỗ trợ Bộ chỉ đạo, điều hành thống nhất, tập trung việc tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, cử tri và Đại biểu Quốc hội công khai, minh bạch; kết nối, liên thông với Hệ thống Bộ với Người dân và Doanh nghiệp của Chính phủ.

Nguồn: Thu Cúc- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

quản lý luân chuyển vốn

Vấn đề quản lý vốn luân chuyển của DN nhỏ và vừa trên địa bàn TP. HCM

Bài viết nghiên cứu thực trạng quản lý vốn luân chuyển ở doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, nhận diện một số vấn đề còn tồn tại trong cách thức quản lý vốn luân chuyển khảo sát lấy ý kiến của các doanh nghiệp. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để nhóm tác giả đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

 

Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu thực nghiệm đã minh chứng, vốn luân chuyển có tác động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, từ những nghiên cứu trước đó, nhóm tác giả phát triển các ý tưởng trên bằng phương pháp định tính để đo lường cách quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay.

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Afeef (2010) đã lập luận rằng, việc quản trị vốn luân chuyển có thể có một tác động sâu sắc hơn đến hiệu quả quản trị công ty nhỏ hơn là các công ty lớn (vì một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là tài sản ngắn hạn và một phần khá lớn trong tổng nợ phải trả của họ là nợ ngắn hạn). Nghiên cứu này bao gồm 40 doanh nghiệp nhỏ và vừa Pakistan niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Karachi trong thời gian 6 năm (từ năm 2003 – 2008).

quản lý luân chuyển vốn

Nghiên cứu cho rằng, quản trị vốn luân chuyển đã có ảnh hưởng rõ ràng đến hiệu quả quản trị tài chính của công ty nhỏ và vừa. Dựa trên các phân tích tương quan và phân tích hồi quy của dữ liệu, nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận: Có mối quan hệ ngược chiều mạnh mẽ giữa số ngày tồn kho bình quân (QR) và kỳ thu tiền bình quân (CR) đến hiệu quả quản trị tài chính công ty nhỏ và vừa. Tuy nhiên, không có tương quan ở mức ý nghĩa cao được tìm thấy giữa hiệu quả quản trị tài chính và kỳ trả tiền bình quân, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và đòn bẩy tài chính (DR).

Saghir, Hashmi và Hussain (2011) đã nghiên cứu tập trung và thiết lập một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Mẫu nghiên cứu gồm 60 công ty dệt may niêm yết tại TTCK Karachi trong giai đoạn 2001 – 2006. Ngành Dệt may được chọn bởi công nghiệp đồ trang sức và dệt may chiếm gần 60% kim ngạch xuất khẩu của Pakistan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối qua hệ ngược chiều có ý nghĩa giữa khả năng sinh lời (ROE) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC).

Hơn nữa, các nhà quản lý có thể cải thiện khả năng sinh lời cho các công ty của họ bằng cách xử lý đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và giữ thời gian thu tiền bình quân, thời gian trả tiền bình quân, lẫn thời gian luân chuyển hàng tồn kho đến mức tối ưu. Dựa vào mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời, nghiên cứu cho rằng: Nhà quản lý hoặc chủ sở hữu sẽ ra các quyết định về việc quản trị vốn luân chuyển của công ty dựa vào khả năng sinh lời.

Nhóm nghiên cứu cũng quan sát thấy khả năng sinh lời thấp có liên quan đến sự gia tăng trong thời gian thanh toán nợ. Điều đó có thể dẫn đến kết luận, các công ty có khả năng sinh lời thấp tốn nhiều thời gian hơn để thanh toán các hóa đơn, lợi dụng thời hạn tín dụng của các nhà cung cấp. Mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời của các công ty cho thấy, các công ty ít khả năng sinh lời hơn sẽ theo đuổi sự sụt giảm của tài khoản phải thu trong một nỗ lực để giảm bớt khoảng cách tiền mặt của họ trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Kết quả nghiên cứu xây dựng được mối quan hệ có ý nghĩa thống kê, do đó các nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lời cho các công ty của mình bằng cách xử lý đúng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và giữ mỗi thành phần ở mức tối ưu.

Nhằm phản ánh, đánh giá thực trạng quản lý vốn luân chuyển hiện nay ở doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, nhận diện những vấn đề còn tồn tại về cách thức quản lý vốn luân chuyển, tác giả đã thực hiện khảo sát lấy ý kiến của các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

 

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn gồm: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua việc sử dụng phương pháp chuyên gia nhằm phỏng vấn lấy ý kiến từ các chuyên gia để hoàn chỉnh bảng câu hỏi phục vụ cho giai đoạn nghiên cứu sau.

Từ bảng câu hỏi thiết kế dựa trên cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước, tác giả đã tiến hành phỏng vấn lấy ý kiến đóng góp của 16 chuyên gia là các tiến sĩ kinh tế đầu ngành, những người làm việc lâu năm tại Cục Thuế, Cục Thống kê, Ban Thanh tra, Ban Quản lý, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Mục đích của việc phỏng vấn chuyên gia nhằm giúp loại bỏ các yếu tố không rõ nghĩa hay trùng lắp giữa các yếu tố quan sát gây hiểu nhầm cho người được phỏng vấn, và đồng thời hiệu chỉnh được một số câu từ chưa rõ nghĩa, phản ánh chính xác bản chất vấn đề nghiên cứu. Bảng câu hỏi được hoàn chỉnh và thiết kế bao gồm 2 phần: Phần 1 liên quan đến thông tin cơ bản về doanh nghiệp, phần 2 nhằm đánh giá quản lý vốn luân chuyển của chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay.

Theo công thức tính mẫu của Yamane (1973), số mẫu doanh nghiệp nhỏ và vừa cần khảo sát dựa trên số doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh tổng thể là n = N/(1+Ne2), trong đó n: số mẫu được chọn; N: số tổng thể nghiên cứu; e: mức sai số chấp nhận, thông thường để đảm bảo mức tin cậy trong ước lượng là 95% thì sai số chấp nhận là 5%. Áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh, số mẫu cần khảo sát là 328 doanh nghiệp. Quá trình lấy mẫu được thực hiện theo phương pháp thuận tiện tập trung tại TP. Hồ Chí Minh.

Kết quả khảo sát

quản lý vốn

 

Thống kê mô tả mẫu quan sát

Hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều ở độ tuổi từ 5 năm đến 10 năm (chiếm tỷ trọng 54,3%), số doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm là 86 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 26,2%) và có 64 doanh nghiệp có độ tuổi dưới 5 năm. Trình độ chuyên môn của lãnh đạo chủ yếu là cao đẳng và đại học (có 217 doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng 66,2%), trình độ trung cấp chuyên nghiệp (có 92 doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng 8,5%), phần còn lại chủ doanh nghiệp học trên đại học (chỉ có 83 doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng 25,3%).

Trong sơ đồ tổ chức về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, có đến 279 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 85%) được khảo sát không có bộ phận tài chính độc lập, mà phòng kế toán sẽ thực hiện luôn chức năng quản trị tài chính. Chỉ có 49 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 15%) là có bộ phận này.

 

Kết quả khảo sát

Theo kết quả thống kê của 328 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ cuộc khảo sát do tác giả thực hiện trong 2 năm 2016 -2018. Với nội dung nghiên cứu về quản lý vốn luân chuyển ở doanh nghiệp nhỏ và vừa của nhóm tác giả, đa số các doanh nghiệp hầu như chưa quan tâm đáng cũng như sự am hiểu về vốn luân chuyển.

Tiếp theo, tác giả tổng hợp thống kê về vốn luân chuyển của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo 2 nhóm tiêu chí chính:

(i) Nhóm thứ nhất: Cách thức phân phối hàng, tiêu thụ sản phẩm và lựa chọn nhà cung cấp, dự trữ hàng tồn kho.

Với câu hỏi của bảng khảo sát, kết quả thống kê cho thấy, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa đang phân phối hàng chủ yếu theo hệ thống đại lý (chiếm tỷ lệ 89%). Đây là kênh phân phối truyền thống. Phương thức tạo hệ thống kinh doanh vẫn còn khá mới so với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm tỷ lệ 11%). Khi tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp nhỏ và vừa ưa chuộng bán sỉ cho các đối tác là hệ thống phân phối với chính sách thanh toán linh hoạt hoặc chấp nhận gối đầu (chiếm tỷ lệ 44%). Kết quả thống kê cho thấy, doanh nghiệp thường dự trữ hàng tồn kho khi nhận được đơn đặt hàng (chiếm tỷ lệ 55%). Việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào được doanh nghiệp ưu tiên cho yếu tố chi phí thấp (chiếm tỷ lệ 51%), cùng với nguồn cung cấp hàng hóa và nguyên vật liệu từ bạn hàng thân thiết có mối quan hệ lâu dài (chiếm tỷ lệ 45%).

(ii) Nhóm thứ hai: Tác giả xây dựng 6 câu hỏi, đi sâu vào phần quản lý các khoản phải thu khách hàng như sau:

Kết quả khảo sát ở Bảng 3 cho thấy, cách thức quản lý khoản phải thu của khách hàng với quan điểm bán thiếu có lợi thế tăng doanh thu bán hàng (chiếm tỷ lệ 69%), và tỷ lệ bán hàng cho khách hàng trả chậm trên tổng doanh thu từ 50%-70% chiếm tỷ lệ 38% trong tổng mẫu khảo sát. Ngoài ra, có tới 213 chủ doanh nghiệp đồng ý cho khách hàng thanh toán chậm để đảm bảo doanh số của doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 65%), và phương án bán thiếu cho khách hàng là quyết định của chủ doanh nghiệp chiếm 93% tương đương 305 doanh nghiệp. Thực trạng này cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có quy chế cho từng cấp quản lý.

quản lý luân chuyển vốn

 

Một số tồn tại, hạn chế

Kết quả khảo sát cho thấy, cách thức quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được vận hành trên hệ thống quản trị tinh gọn, thiếu những chuyên gia được đào tạo bài bản nhằm đưa ra những sách lược kinh doanh cũng như chiến lược tài chính đúng đắn cũng đã phần nào hạn chế sự phát triển cũng như kềm hãm hiệu quả hoạt động. Việc kinh doanh và điều hành các hoạt động trong doanh nghiệp đang bị lệ thuộc quá lớn vào chủ doanh nghiệp cũng phần nào hạn chế những ý tưởng mới, những hướng đi độc đáo trong công tác quản trị tài chính cũng như kinh doanh nhằm tạo hiệu ứng tốt hơn cho hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ hai, một trong những tồn tại dễ thấy ở bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa đó là ưu tiên tập trung vào sản xuất và kinh doanh, quá chú trọng cho bán hàng mà quên đi công tác thu hồi những công nợ phải thu hoặc cố kéo dãn công nợ phải trả, đã phần nào làm cho nhu cầu nguồn vốn của doanh nghiệp tăng cao không cần thiết. Nếu tập trung hơn vào quá trình thu hồi nợ sẽ giảm thiểu được nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Việc phối hợp nhịp nhàng chu kỳ kinh doanh với các khoản phải thu, phải trả và hàng tồn kho sẽ giúp kỳ luân chuyển tiền ngắn lại và nhu cầu vốn cho các kỳ kinh doanh kế tiếp nhau sẽ được tái tận dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp.

Thứ ba, việc thiếu hoạch định chiến lược dài hạn đang khiến cho hiệu quả hoạt động của bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện khách quan của nền kinh tế. Chiến lược được hoạch định rõ ràng, nghiên cứu được đầu tư bài bản… sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua được khó khăn để phát triển bền vững hơn trong tương lai.

 

Kết luận và đề xuất giải pháp

Qua khảo sát, nghiên cứu đã cho thấy, tổ chức và quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh còn tồn tại một số hạn chế. Nguyên nhân của các hạn chế đó là do một phần do năng lực của chủ doanh nghiệp còn hạn chế, chưa đủ cán bộ có trình độ nghiệp vụ, ít hoặc không có điều kiện tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ. Đồng thời, các chủ doanh nghiệp thường chưa hoạch định chiến lược dài hạn cho hoạt động sản xuất kinh doanh… Nhằm nâng cao cách thức  tổ chức và quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, cần chú trọng một số giải pháp sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa nên xây dựng một kế hoạch phát triển có tầm nhìn trong dài hạn, trong đó phân tích rõ những thời điểm và loại tài sản nên đầu tư mở rộng, gắn liền với quy mô phát triển của doanh nghiệp, đồng thời đi kèm với việc đầu tư đó là kế hoạch tài trợ và trả nợ rõ ràng, có tính khả thi.

Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể rút ngắn thời gian thu tiền bán hàng bằng cách: Nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo vị thế trên thị trường, xây dựng bộ tiêu chuẩn bán chịu phù hợp với điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp; Chiết khấu bằng tiền khi khách hàng thanh toán trước hạn, hoặc chiết khấu theo khối lượng hàng cho những khách hàng sẵn sàng ký hợp đồng mua dài hạn. Việc quản lý các khoản phải thu là đảm bảo hài hòa giữa rủi ro và hiệu quả quản trị tài chính, chấp nhận rủi ro từ khách hàng mà không phải là sự đánh đổi của doanh nghiệp.

Thứ ba, rút ngắn thời gian lưu kho nhằm gia tăng hiệu quả quản trị tài chính, chủ doanh nghiệp cần có chính sách tồn kho để cân bằng các mục tiêu khác nhau như: Giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí tồn kho, khắc phục yếu tố mùa vụ, chống lại biến động giá cả và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. Doanh nghiệp cần đẩy mạnh ứng dụng phần mềm kế toán hàng tồn kho hỗ trợ các công đoạn thu thập dữ liệu để có thông tin chuẩn xác hơn cho công tác dự báo. Tuy nhiên, khi tăng số ngày tồn kho, để đảm bảo lượng hàng ổn định trong kho, các nhà quản lý phải cân nhắc kỹ lưỡng, tránh hàng hóa hư hỏng do bảo quản dẫn đến chất lượng hàng không đảm bảo sẽ làm cho doanh nghiệp bị mất uy tín trên thị trường.

Hiện tại, ngành công nghệ thông tin trong nước đã có sẵn các sản phẩm phần mềm để giải quyết những hạn chế trong quản lý luân chuyển vốn của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, chúng tôi cung cấp sản phẩm chuyên dụng Giải pháp Data V Tech, phù hợp với hệ thống kế toán ở Việt Nam. Hãy kết nối với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp!

 

Tài liệu tham khảo:

Chính phủ, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, ngày 30/06/2009;

Abbasali, P., & Milad, E. (2012), “Impact of Working Capital Management on Profitability and Market Evaluation: Evidence from Tehran Stock Exchange”, International Journal of Business & Social Science, May2012, Vol. 3 Issue 9, p311;

Afeef, M.  (2010) “Analyzing the Impact of Working Capital Management on the Profitability of SME’s in Pakistan”, International Journal of Business & Social Science, Vol. 2 Issue 22, p173;

Ahmad, Z., Abdullah, N. M. H., & Roslan,S. (2012), “Capital Structure Effect on firms perfprmance: Focusing on Consumers and Industrials sectors on Malaysian Firms”, International Review of Business Research papers, Vol.8.No.5.pp.137-155;

Lazaridis, I., & Tryfonidis D. (2006), “Relationship between working capital management and profitability of listed companies in the Athens stock exchange”, Journal of Financial Management and Analysis, Vol. 19, pp. 26-35.

Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 10/2019

Microsoft Việt Nam

Microsoft tối ưu phần mềm giảm hậu quả thiên tai cho người dân Việt Nam

Microsoft Việt Nam nhận giải thưởng ý nghĩa của AmCham với hàng loạt ứng dụng hỗ trợ cộng đồng, mà mới đây nhất là phần mềm ứng phó thiên tai thảm họa cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Microsoft Việt Nam mới đây được Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) trao giải thưởng “Cống hiến Vì cộng đồng” năm thứ 5 liên tiếp với hàng loạt sáng kiến tầm quốc gia. Doanh nghiệp không chỉ phối hợp với Bộ Giáo dục Đào tạo, triển khai dự án ​​YouthSpark dạy kỹ năng số cho học sinh và khóa học trực tuyến cho giáo viên, mà còn hỗ trợ Hội Chữ thập đỏ xây dựng phần mềm quản lý rủi ro thảm họa đầu tiên tại Việt Nam.

Giải pháp công nghệ “Ứng phó Thảm họa” được lập trình, dưới sự tư vấn kỹ thuật của các chuyên gia Microsoft cùng với nguồn kinh phí tài trợ 2,2 tỷ đồng. Năm 2017, ứng dụng chính thức ra mắt 2 phiên bản trên thiết bị di dộng và nền tảng web, cung cấp miễn phí cho 2 nhóm đối tượng: Người dân và cán bộ Chữ thập đỏ.

“Ứng phó Thảm họa” sử dụng 4 công nghệ lõi bao gồm: Hệ thống quản trị tổ chức Microsoft Dynamic Navison, Giải pháp công nghệ đa nền tảng Microsoft, Bản đồ đường xá mở OSM, Định vị địa lý QGIS. Đầu mùa mưa lũ, ứng dụng đưa vào triển khai thí điểm tại 9 tỉnh thành trọng điểm thiên tai (Lai Châu, Hòa Bình, Hà Nội, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Cà Mau, Bạc Liêu).

Sau hơn một năm triển khai, “Ứng phó Thảm họa” đã trở thành trợ thủ đắc lực cho hàng nghìn cán bộ thuộc hơn 600 Đội ứng phó thiên tai thảm họa từ cấp xã huyện đến Trung ương. Ngay khi có thiên tai xảy ra, ứng dụng sẽ đánh giá nhanh thảm hoạ, cảnh báo theo từng cấp và truyền tin “cấp tốc” về TW Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Đồng thời, phần mềm kích hoạt đồng loạt các thành viên Đội phản ứng nhanh thông qua email, tin nhắn điện thoại và phần mềm. Theo bà Đoàn Hương Thơm – Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện Tam Đường (Lai Châu), năm qua, ứng dụng đã giúp đội huy động nhanh chóng nhân lực, giảm thiểu các thao tác thủ công cũng như sổ sách số liệu, nâng cao độ chính xác trong công tác đối phó với bão lũ.

Ứng dụng cũng cho phép Hội Chữ thập đỏ tra cứu các hộ gia đình dễ tổn thương nằm trong vùng thiên tai thảm hoạ; sau đó định vị các thành viên đội phản ứng nhanh để điều động đến cứu hộ cứu nạn nhanh nhất. Nhờ đó, góp phần giảm hậu quả thiệt hại về người lẫn tài sản trên khắp cả nước.

Chia sẻ về lợi ích dự án mang lại, bà Đào Thị Luyến – Hội Chữ thập đỏ Điện Biên cho biết, địa bàn tỉnh hay xảy ra lũ quét và sạt lở đất. Trước đây khi chưa có phần mềm, cán bộ chữ thập đỏ rất vất vả trong việc thu thập thông tin, đánh giá thiệt hại, lưu trữ và truyền tải thông tin, thậm chí đưa thông tin không chính xác do độ trễ. Sau khi cài đặt ứng dụng trên điện thoại, thông tin gửi về trung ương nhanh hơn, cảnh báo kịp thời cho người dân, hạn chế tối đa thiệt hại về người của.

” Ứng phó thảm hoạ” có sẵn trên kho app IOS và Android.

Điểm thú vị của “Ứng phó Thảm họa” còn nằm ở nền tảng mở, cho phép người dân tải phần mềm về điện thoại theo dõi thông tin. Thông qua đó, nhiều bà con vùng bão lũ đã kịp thời tiếp nhận các thông tin dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai thảm hoạ… được cập nhật tự động từ các nguồn tin uy tín của Chính phủ.

“Ứng phó Thảm họa” là một trong những dự án Microsoft thực hiện thành công sau hơn 23 năm hoạt động tại Việt Nam. Tổng giá trị hỗ trợ kỹ thuật, phần mềm, điện toán đám mây của doanh nghiệp với cộng đồng lên đến hơn 20 triệu USD. Ngoài ra, Microsoft còn hợp tác và hỗ trợ ngân sách hơn 3 triệu USD cho hơn 100 tổ chức phi lợi nhuận trong nước, thúc đẩy các hoạt động đào tạo kỹ năng số cho thế hệ tương lai mà công nghệ đóng vai trò cốt lõi.

Nguồn: Báo Dân trí

chuyển đổi số

Chuyển đổi số hay trở thành món ‘ếch luộc’?

Chuyển đổi số không còn là xu hướng mà là vấn đề sống còn tại các doanh nghiệp, nhưng phần lớn doanh nghiệp chưa biết phải bắt đầu từ đâu, bằng cách nào, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).

Ngộ nhận về chuyển đổi số

Chuyển đổi số (Digital Transformation) được hiểu là quá trình thay đổi mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng các công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), vạn vật kết nối (Internet of Things), điện toán đám mây (Cloud), trí tuệ nhân tạo (AI),… nhằm thay đổi phương thức điều hành, quy trình làm việc, văn hóa công ty. Cũng như tạo ra các mô hình kinh doanh mới, sản phẩm dịch vụ mới và trải nghiệm khách hàng mới chưa từng có.

Theo DBT Center, trong 5-10 năm tới, 40% các doanh nghiệp sẽ bị đào thải nếu không có bất kỳ thay đổi, đột phá nào. Hệ quả của việc chậm chuyển đổi có thể được nhìn thấy qua rất nhiều cái tên lừng lẫy một thời như Kodak, Yahoo…nay đã chìm vào quên lãng.

Bài học từ cái chết của Kodak là một ví dụ điển hình. Ở nhiều thập niên trước, Kodak chiếm 80-90% thị trường phim ảnh nhờ mô hình bán máy ảnh rất rẻ nhưng bán phim và thuốc tráng phim, rửa ảnh rất đắt.

Từ năm 1975, một kỹ sư của Kodak đã phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số nhưng Kodak “xếp xó” vì sợ nếu tung ra máy ảnh kỹ thuật số sớm sẽ không bán được phim và thuốc rửa nữa, trong khi đây là nguồn lợi nhuận rất lớn.

Đến năm 1995, Kodak thấy sai lầm, nhảy vào lĩnh vực máy ảnh kỹ thuật số thì đã quá muộn, trình độ công nghệ của Kodak lúc này đã tụt hậu đến mức không thể theo kịp các đối thủ trên thị trường. iPhone ra đời năm 2007. Năm 2010, Instagram xuất hiện, mọi người chụp ảnh mà không cần phải tráng phim, rửa ảnh nữa. Từ đó, Kodak liên tục thua lỗ và đến đầu năm 2012 buộc phải tuyên bố phá sản.

Hay những thực tế khác gần hơn là chuyện taxi truyền thống bị cạnh tranh khốc liệt bởi Uber, Grab sử dụng công nghệ để kết nối hành khách với chủ xe, tối ưu việc vận chuyển, giá cước rẻ. Hoặc sự ra đời của Skype, Viber cũng khiến các công ty điện thoại bị tác động lớn vì sử dụng các ứng dụng này, người dùng có thể gọi điện thoại di động, nhất là gọi đường dài ra nước ngoài mà không phải mất tiền.

Chuyển đổi số hay chuyện luộc ếch?

Theo một cuộc khảo sát về chuyển đổi số trong doanh nghiệp của CEO Forum năm ngoái, có đến 53% doanh nghiệp trả lời cực kỳ quan tâm nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu; 27% doanh nghiệp cho biết đang tìm cách áp dụng và gặp nhiều khó khăn; chỉ có 7% doanh nghiệp cho biết đã có ứng dụng và thấy hiệu quả rõ rệt; số còn lại thì có quan tâm nhưng thấy chưa cần thiết. Những con số này cho thấy, phần đông doanh nghiệp đã quan tâm đến chuyển đổi số nhưng không biết bắt đầu từ đâu và nên đi theo hướng nào?

Giáo sư Hồ Tú Bảo, phụ trách Phòng Thí nghiệm khoa học dữ liệu Viện Nghiên cứu cao cấp về toán (VIASM), Giám đốc Khoa học của Viện John von Neumann thuộc Trường Đại học Quốc gia TP. HCM cho rằng, chuyển đổi số hiệu quả phải được thực hiện từ cấp cao nhất và lan tỏa đến mọi cấp của hệ thống, mọi khía cạnh của doanh nghiệp.

“Thực sự doanh nghiệp chỉ có thể chuyển đổi số được nếu người đứng đầu nhận ra đó là chuyện sống còn của mình, sau đó là ở tất cả mọi cấp, vì chuyển đổi số ở doanh nghiệp là việc của tất cả nhân sự, nếu chỉ có lãnh đạo thôi mà bên dưới không thực hiện thì lãnh đạo có “hô” cũng không được. Đây là việc mọi người cùng nhận thức và làm”, Giáo sư Hồ Tú Bảo nói.

Shark Nguyễn Hòa Bình – Chủ tịch HĐQT tập đoàn NextTech thì cho rằng: “Chuyển đổi số đôi khi là những việc mình đang làm hàng ngày, như ta dùng phần mềm quản lý giấy tờ, quản lý công việc, dùng Zalo để chat hoặc dùng một ứng dụng để giao việc – đó là chuyển đổi số”.

Shark Bình ví von chuyển đổi số ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam như việc thả ếch vào một nồi nước lạnh. Ban đầu, nước còn lạnh thì ếch không hề có phản ứng gì. Càng về sau, nồi nước càng trở nên nóng hơn, và đến lúc nước sôi thì đã muộn. Ếch đã bị luộc chín trong nồi nước.

“Nhiều chủ doanh nghiệp đã nhìn ra bài toán cần phải chuyển đổi số. Nhưng vì loay hoay, hoặc chủ quan, thời điểm hiện tại chưa thực sự quyết tâm, nên rất dễ rơi vào trường hợp chú ếch kia. Vì chỉ 5-10 năm nữa thôi, khi doanh nghiệp cảm thấy “nóng”, thì đã trở thành món ếch luộc lúc này chẳng hay”, Shark Bình chia sẻ.

 

Để chuyển đổi số không là “bài toán” khó

Theo ông Vũ Minh Trí – CEO VNG Cloud, thì tất cả các doanh nghiệp tại Việt Nam và trên thế giới đều nên chuyển đổi số và tỷ lệ thất bại cao là bởi hầu hết doanh nghiệp Việt đều để bộ phận IT dẫn dắt dự án.

“Chuyển đổi số nên bắt đầu từ bộ phận kinh doanh, và người dẫn dắt dự án nên là lãnh đạo ở bộ phận kinh doanh chứ không phải IT. 80% doanh nghiệp chuyển đổi số được lãnh đạo bởi bộ phận IT đã thất bại. Nói chung, doanh nghiệp nhất định phải để bộ phận kinh doanh dẫn dắt dự án chuyển đổi số thay vì những bộ phận khác”, ông Trí nhận xét.

Về phía Shark Nguyễn Hòa Bình đưa ra bốn lời khuyên. Thứ nhất, doanh nghiệp nên dùng nền tảng, dịch vụ, phần mềm online sẵn có; có thể là phần mềm điều hành, giao việc mà không phải dùng điện thoại hay giao bằng miệng nữa; lãnh đạo lúc này không còn sợ nhớ nhớ quên quên vì đã có ứng dụng nhắc nhở.

Thứ hai, doanh nghiệp nên tìm đối tác để chuyển đổi số, hoặc có thể tìm một đơn vị tư vấn. Shark Bình cũng lưu ý khâu này vì thực tế khó đạt được, vì rất dễ tìm sai chuyên gia; và điều này chỉ khả thi với những doanh nghiệp quy mô vốn lớn.

Thứ ba, doanh nghiệp có thể nghĩ đến chuyện “săn đón” giám đốc cao cấp về công nghệ. Lấy ví dụ chuyến tham dự APEC tại Mỹ cách đây vài năm, Shark Bình biết được thông tin tổng thống Obama cũng có tuyển cho mình giám đốc kĩ thuật, giám đốc công nghệ.

Thứ tư, đây cũng là bước cuối cùng khi doanh nghiệp không tìm được cách nào, thì nên tìm đến “tri kỉ” của chuyển đổi số. Shark Bình nhấn mạnh: “Tri kỉ là ai? Tri kỉ là những doanh nghiệp công nghệ, nhưng không chăm chăm vì tiền của doanh nghiệp, thay vào đó khi doanh nghiệp cắt giảm được chi phí hoặc tăng doanh thu thông qua phần mềm mới, thì phần giá trị gia tăng đấy hai bên chia đôi. Đấy mới gọi là tri kỉ”.

Chia sẻ bên lề, Shark Bình cho hay, bản thân NextTech cũng như quỹ khởi nghiệp Next100 đang liên tục tìm tri kỉ, bằng cách hướng đến những doanh nghiệp đang khó khăn, nhưng có mô hình kinh doanh tốt.

Nguồn: Việt Hưng- The Leader

startup

Shark Bình rót 10 tỷ đồng cho startup vì “Founder trông có vẻ tử tế”

Nhận thấy mô hình hỗ trợ chuyển đổi số cho startup bán hàng online và Founder của dự án “trông có vẻ tử tế”, sau 1 tháng thẩm định, Shark Bình quyết định rót 10 tỷ đồng cho PushSale.vn.

Với mục tiêu trở thành nhà đầu tư chiến lược đối với các startup công nghệ, hỗ trợ kinh nghiệm và nguồn lực hệ sinh thái để Startup Việt đủ sức cạnh tranh ở tầm khu vực, mang sản phẩm – thương hiệu Việt vươn ra toàn cầu, ngày 10/12/ 2019 – Shark Nguyễn Hoà Bình thông qua Quỹ đầu tư và Hỗ trợ khởi nghiệp Next100.vn ký hợp đồng đầu tư tài trợ vốn lên đến 10 tỷ đồng cho PushSale.vn, Startup chuyển đổi số toàn diện cho các doanh nghiệp bán hàng Online.

PushSale là dự án gắn liền với trăn trở của Founder Đỗ Xuân Thắng – người có 6 năm khởi nghiệp trong lĩnh vực Marketing thuê ngoài.

Anh Thắng nhận thấy doanh nghiệp bán hàng Online tại Việt Nam đầu tư rất nhiều cho quảng cáo trực tuyến nhưng lại thiếu sự liên kết thông suốt giữa các bộ phận từ Marketing đến bán hàng, kho vận, kế toán, giao hàng và chăm sóc khách hàng… dẫn đến sự thiếu thông suốt và lãng phí tài nguyên và cơ hội kinh doanh.

Trước thực tế đó, tháng 3/2019 Xuân Thắng và các cộng sự bắt tay xây dựng PushSale.vn, nền tảng chuyển đổi số toàn diện cho doanh nghiệp bán hàng Online. Chỉ sau 9 tháng xây dựng hoàn thiện và đưa vào hoạt động, PushSale.vn đã ra mắt thị trường và giúp nhiều doanh nghiệp tăng gấp 5 lần doanh thu nhờ quản trị tổng thể được toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình.

Trong đó, phần mềm PushSale giúp quản trị doanh nghiệp trong các ngành hàng dược phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, đồ gia dụng và phong thủy có thể quản lý chuyên sâu từng khâu của hoạt động bán hàng Online, từ chạy quảng cáo ra số điện thoại, đến telesale chốt đơn, giao hàng qua các hãng vận chuyển.

Nhờ giao diện đơn giản trực quan và dễ sử dụng như Excel, ứng dụng di động PushSale giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng quản lý và kiểm soát các quy trình kinh doanh mọi lúc, mọi nơi.

Ngoài ra, ưu điểm của PushSale là kết nối và tích hợp sẵn với các tiện ích và nền tảng công nghệ khác vào một nền tảng duy nhất nhằm mang lại sự tiện ích tối đa cho doanh nghiệp bán hàng Online trong các khâu quảng cáo, kho vận, giao hàng, thanh toán, nguồn hàng.

Nhận thấy tiềm năng của PushSale.vn và sự nhiệt huyết của đội ngũ sáng lập Startup, quỹ đầu tư khởi nghiệp Next100.vc của Shark Nguyễn Hòa Bình đã quyết định tài trợ số vốn 10 tỷ đồng nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong các doanh nghiệp bán hàng Online.

Mặc dù tỉ lệ cổ phần của hai bên không được tiết lộ tại lễ ký kết song Shark Bình cho biết, tỉ lệ nắm giữ của quỹ đầu tư với PushSale không quá bán. Ông cũng chia sẻ thêm, thương vụ chính thức được “chốt” sau hai cuộc gặp gỡ trao đổi và 1 tháng tiến hành thẩm định.

“Trong thương vụ này NextTech-group không chỉ tài trợ vốn mà còn mang hệ sinh thái các nền tảng công nghệ bao gồm mạng lưới hậu cần kho vận Boxme.asia; nền tảng thương mại điện tử Netsale.asia; ứng dụng giao hàng HeyU, cổng thanh toán Ngân Lượng… tích hợp vào Pushsale nhằm phục vụ mọi nhu cầu kinh doanh Online của doanh nghiệp chỉ trong một nền tảng.

Ngoài ra NextTech cũng sẽ đóng góp giải pháp tích hợp và đưa PushSale mở rộng thị trường ra toàn khu vực Đông Nam Á trong thời gian ngắn với tối ưu nguồn lực nhất”, Shark Nguyễn Hòa Bình chia sẻ.

“Kế hoạch trước mắt trong năm 2020 của chúng tôi là chuyển đổi số thành công cho ít nhất 1000 doanh nghiệp Việt và ít nhất 2 thị trường khác tại Đông Nam Á”, ông Đỗ Xuân Thắng, Founder & CEO PushSale.vn phát biểu tại lễ ký kết.

Sau lễ ký kết, NextTech-Group đồng hành cùng PushSale khởi xướng chiến dịch Push1000 với mục tiêu chuyển đổi số thành công cho 1000 doanh nghiệp bán hàng Online tại Việt Nam và 2 thị trường khác tại khi vực Đông Nam Á ngay trong năm 2020.

Nguồn: Báo Dân sinh

thống kê Việt Nam 4.0

Thống kê Việt Nam: Chuyển mình rõ rệt trong kỷ nguyên 4.0

Ngành Thống kê thời cách mạng công nghiệp – CMCN 4.0 – đã và đang có những bước chuyển mình rõ rệt, từ quyết tâm mạnh mẽ của đội ngũ lãnh đạo ngành đến ý thức của mỗi cá nhân hướng tới việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực từ quản lý điều hành đến chuyên môn nghiệp vụ…

Câu chuyện không mới

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các hoạt động thống kê không phải là câu chuyện mới đối với ngành thống kê. Cách đây vài chục năm, thống kê là một trong những ngành dẫn đầu cả nước về ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ, như: Sử dụng các phần mềm trong phân tích, xử lý dữ liệu hoặc cập nhật phiếu dữ liệu thu thập được từ các cuộc điều tra thống kê với các bài toán phức tạp….

Tuy nhiên, với nhu cầu và trào lưu, xu hướng phát triển của xã hội hiện đại thì ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở đó, mà cần yêu cầu cao hơn, đó là tích hợp, chia sẻ dữ liệu, là sử dụng dữ liệu lớn trong điều tra thống kê, là ứng dụng các thiết bị công nghệ thông minh trong điều tra thống kê, là sử dụng các phần mềm thông minh để phân tích và chạy dữ liệu…

Trước thực trạng đó, khi xây dựng Luật Thống kê sửa đổi năm 2015, các nhà làm Luật đã đưa ra những điểm mới căn bản trong Luật, đó là các điều khoản liên quan đến sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin cho hoạt động thống kê. Quy định của luật là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành thống kê có căn cứ triển khai xây dựng nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động thống kê.

Đặc biệt, gần đây nhất Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghị quyết này đã nhấn thêm sức mạnh và quyết tâm ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt công tác từ quản lý điều hành đến nghiệp vụ chuyên môn của ngành Thống kê nói riêng và các ngành khác trong cả nước nói chung.

Trên con đường số hóa

Ngày 10/5/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 501/QĐ-TTg phê duyệt Đề án ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động thống kê Nhà nước giai đoạn 2017-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Đề án 501 đưa ra mục tiêu chung là ứng dụng mạnh CNTT-TT và các phương pháp khoa học dữ liệu để nâng cao chất lượng hoạt động thống kê Nhà nước hướng đến hệ thống thông tin thống kê quốc gia tích hợp và hiện đại trong giai đoạn 2020-2025.

Mục tiêu đến năm 2020 xây dựng hệ thống thông tin thống kê quốc gia, từng bước kết nối với hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành, địa phương; sử dụng công nghệ thông minh (webform và thiết bị cầm tay) thay thế phiếu điều tra giấy bằng phiếu điều tra điện tử trong các cuộc điều tra thống kê, cụ thể: 80% trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, 75% trong điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020, 75% trong điều tra doanh nghiệp và hộ cá thể, 80% trong các cuộc điều tra khác…

Bên cạnh đó, tích hợp, tiếp nhận hoàn chỉnh các dữ liệu hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc, bảo hiểm xã hội và cơ sở dữ liệu một số bộ, ngành để biên soạn các chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của Việt Nam…

Xa hơn nữa, mục tiêu của năm 2025 là hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê nhà nước và hệ cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia tập trung, thống nhất theo quy định của Luật Thống kê; sử dụng 85% phiếu điều tra điện tử trong Tổng điều tra kinh tế năm 2021 và 90% trong các cuộc điều tra khác; tích hợp hoàn chỉnh dữ liệu hành chính có liên quan trong các ngành, lĩnh vực…

Theo đó, một số bộ, ngành và Tổng cục Thống kê đã thực hiện chia sẻ dữ liệu hành chính trong công tác thống kê. Việc sử dụng nguồn dữ liệu hành chính từ ngành Thuế, Kho bạc Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước khác như y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa thể thao, thông tin truyền thông trong Tổng điều tra kinh tế 2017 là một ví dụ điển hình. Đặc biệt, sự chia sẻ dữ liệu của ngành thuế trong rà soát điều tra khối doanh nghiệp đã đóng góp rất lớn vào thành công của cuộc tổng điều tra này.

Trong vài năm trở lại đây, các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục và một số Cục Thống kê địa phương đã đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm ứng dụng một số phương thức mới trong thu thập thông tin như: Sử dụng thiết bị điện tử thông minh (CAPI) trong điều tra giá tiêu dùng, lao động – việc làm, điều tra bằng webform trong điều tra doanh nghiệp; ứng dụng phần mềm blockchaine điều tra chăn nuôi; ứng dụng phần mềm điều tra chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá bất động sản bằng dữ liệu lớn hay ứng dụng bài giảng điện tử trong công tác tập huấn điều tra mức sống dân cư…

Đặc biệt, việc áp dụng hình thức thu thập thông tin bằng CAPI trong các cuộc điều tra mẫu vài năm gần đây và mới nhất là trong Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019 cho thấy việc sử dụng thiết bị điện tử di động như máy tính bảng, điện thoại thông minh để thu thập thông tin sẽ làm tăng chất lượng dữ liệu do kiểm soát được các lỗi lô gic trong quá trình thu thập thông tin (khi điều tra viên tiến hành phỏng vấn tại hộ, phầm mềm trong thiết bị sẽ phát hiện những lỗi sai lô gic trong quá trình hộ trả lời phỏng vấn và có cảnh báo để điều tra viên kiểm tra lại thông tin kỹ hơn), giám sát được việc điều tra viên thống kê có thực tế đến hộ phỏng vấn hay không; bên cạnh đó tiết kiệm được thời gian hoàn thành phiếu điều tra (điều tra viên kết thúc phỏng vấn tại hộ, phiếu điều tra được gửi thẳng về trung tâm), nhờ đó rút ngắn thời gian xử lý và công bố dữ liệu (do không phải làm sạch phiếu và nhập tin). Phương pháp này sẽ tiết kiệm một khoản kinh phí lớn để in phiếu giấy, thuê người nhập tin và các chi phí liên quan khác. Đã có trên 99,9% hộ dân cư được điều tra bằng hình thức CAPI trong Tổng điều tra dân số và nhà ở 2019, vượt mục tiêu Đề án 501 đề ra.

Tiếp nối thành công từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 cũng ứng dụng CNTT trong tất cả các khâu điều tra. Và điểm đặc biệt hơn trong cuộc điều tra này là việc kết nối các thông tin sẵn có của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Có khoảng hơn 20 trường dữ liệu từ kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 được kết nối với chương trình điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Các thông tin này được kiểm tra, đối chiếu trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn của điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 và được sử dụng để tổng hợp số liệu và phân tích báo cáo kết quả điều tra. Đây là lần đầu tiên ngành thống kê thực hiện kết nối chuỗi dữ liệu mảng (panel data) ngay trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn giúp thuận tiện cho quá trình điều tra, nâng cao chất lượng thông tin, giảm bớt thời gian để thu thập các thông tin đã sẵn có.

Có thể thấy, áp dụng hình thức thu thập thông tin bằng CAPI và Webform là một bước tiến trong cải tiến phương pháp điều tra thống kê, giúp nâng cao chất lượng số liệu, giảm thời gian xử lý và công bố kết quả và phù hợp với xu hướng phát triển chung của thống kê trên thế giới và trong khu vực.

Việc sử dụng dữ liệu lớn trong điều tra thông tin cũng được một số đơn vị của ngành Thống kê nghiên cứu, thử nghiệm. Gần đây, Vụ Thống kê Giá thử nghiệm điều tra chỉ số giá bất động sản; ứng dụng công cụ lắng nghe dư luận theo hướng tiếp cận từ dữ liệu lớn hay Viện Khoa học Thống kê đã bước đầu thử nghiệm tính chỉ số giá tiêu dùng cũng qua sử dụng dữ liệu lớn của các trang web bán hàng trực tuyến có uy tín. Dù việc sử dụng dữ liệu lớn để thu thập thông tin cũng bộc lộ một số bất cập như chỉ số giá tiêu dùng tính từ nguồn big data không tính được theo vùng địa lý kinh tế, địa phương, khu vực thành thị, nông thôn và cũng không tính được cho tất cả các ngành hàng… Tuy nhiên, kết quả thu được từ những nghiên cứu này cũng là gợi ý rất đáng lưu tâm trong quá trình hoàn thiện công tác thống kê trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay.

Rõ ràng, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thống kê đã đem lại những lợi ích to lớn, tuy nhiên để việc ứng dụng này đạt hiệu quả to lớn rất cần sự đầu tư cơ bản từ hạ tầng thông tin, hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nhân lực và trên hết là ý thức của đội ngũ lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương quyết tâm đưa số hóa, công nghệ hóa vào thực tiễn công tác từ quản lý điều hành đến chuyên môn nghiệp vụ nhằm hướng tới nâng cao chất lượng số liệu thống kê trong thời đại kỷ nguyên số./.

logistics công nghệ 4.0

Logistics Việt “thay da đổi thịt”

Không còn là những chiếc xe tải lù đù, những kho chứa hàng thô sơ, những đoàn tàu biển cũ kỹ, lạc hậu nữa… mà giờ đây hệ sinh thái cho ngành logistics Việt Nam đã trở nên hiện đại. 

Hạ tầng được nâng cấp, phần mềm quản lý hàng lưu kho, rời kho áp dụng công nghệ 4.0… ngành logistics Việt Nam được đánh giá có tiềm năng tăng trưởng cao trong những năm tới.

Là một mắt xích quan trọng của nền kinh tế, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cho rằng, tốc độ phát triển của ngành logistics ở Việt Nam những năm gần đây tăng nhanh, đạt khoảng 14% – 16%, với quy mô khoảng 40 – 42 tỷ USD/năm.

Có tới hơn 73% doanh nghiệp tham gia khảo sát của Vietnam Report vào tháng 12/2018 cho rằng, toàn ngành vận tải và logistics Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng trên hai con số trong năm 2019.

Đòn bẩy từ các cơ hội

Theo Bộ Công Thương, sự phát triển của ngành vận tải và logistics sẽ tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng trở thành một trung tâm sản xuất mới trong khu vực, có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc. Bởi Việt Nam đang có nhiều lợi thế để phát triển ngành vận tải và logistics.

Đó là, trao đổi thương mại toàn cầu gia tăng cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế và việc ký kết thành công các hiệp định thương mại tự do, mở ra cánh cửa giao thương ngày càng rộng lớn cho Việt Nam. Cơ sở hạ tầng logistics như kho bãi, đường cao tốc, cảng biển, cảng hàng không… đang không ngừng được cải thiện.

Hơn nữa, Bộ Công Thương nhận định, quy mô thị trường dịch vụ logistics Việt Nam nhỏ (khoảng 2 – 4% GDP) nhưng tốc độ tăng trưởng cao (20 – 25% năm). Thị trường logistics của Việt Nam tăng theo nhu cầu thương mại, gồm thương mại nội địa và xuất nhập khẩu. Ngoài ra, sự gia tăng thuê ngoài logistics cũng góp phần vào sự phát triển của ngành.

Cùng với đó là sự tăng trưởng khá cao của ngành bán lẻ Việt Nam; là quốc gia có mật độ dân số đông, dân số trẻ, mức độ đô thị hóa nhanh, thu nhập bình quân đầu người tăng, tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng các thiết bị di động cao và khả năng tiếp cận, mua sắm trực tuyến.

Ngoài ra, nhu cầu lưu chuyển hàng hóa phục vụ người tiêu dùng cũng ngày càng gia tăng; thương mại điện tử phát triển làm gia tăng nhu cầu về dịch vụ giao nhận; xuất nhập khẩu liên tục tăng trưởng mạnh trong những năm qua… Đây là những yếu tố rất quan trọng thúc đẩy ngành vận tải và dịch vụ logistics phát triển.

Hệ sinh thái logistics khởi sắc

Có thể nói, trước xu thế phát triển, các trụ cột như hạ tầng, kho bãi… cho dịch vụ logistics cũng không ngừng lớn mạnh. Báo cáo Logistics 2019 của Bộ Công Thương chỉ rõ, dịch vụ kho bãi cũng gia tăng nhanh chóng nhờ các ngành sản xuất phát triển và người dân tăng chi tiêu tiêu dùng.

Theo đó, giá thuê nhà kho cũng được kỳ vọng sẽ tăng trong các năm tới từ 1,5% đến 4% mỗi năm, kéo theo tỷ lệ kho trống giảm. Cụ thể, tại khu vực phía Bắc, theo nghiên cứu của CBRE, thị trường kho bãi sẽ tập trung tại xung quanh Thủ đô Hà Nội và các tỉnh ven biển bao gồm Hải Phòng, Quảng Ninh. Các khu vực này tập trung dân số đông đúc nhất khu vực, đây là các khách hàng tiềm năng và là nguồn nhân lực dồi dào.

Thống kê năm 2019 của Cục Hàng hải Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có 281 bến cảng với tổng công suất trên 550 triệu tấn/năm. Hệ thống cảng biển được đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng. Hầu hết các cảng đầu mối khu vực: Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tp.HCM… đã được nâng cấp có thể tiếp nhận tàu trọng tải đến 30.000 DWT. Ở khu vực miền Trung, khối cảng biển cũng đang trên đà “khởi sắc”, nhất là cảng Đà Nẵng.

Đội tàu biển Việt Nam cũng có lực lượng “hùng hậu”. Tính đến tháng 6/2019, đội tàu biển Việt Nam có 1.568 tàu với tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sau Singapore, Indonesia, Malaysia) và thứ 30 trên thế giới.

Tuổi tàu bình quân của đội tàu Việt Nam hiện là 15,6, trẻ hơn 5,2 tuổi so với thế giới (20,8 tuổi). Cơ cấu đội tàu biển Việt Nam cũng phát triển theo hướng chuyên dụng hóa; đặc biệt, đội tàu container Việt Nam tăng trưởng khá tốt từ 19 tàu trong (năm 2013) lên 39 tàu (năm 2019).

“Đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam hiện đã đảm nhận được gần 100% lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển, trừ một số tàu chuyên dụng như hàng lỏng (LPG), xi măng rời…

Đối với vận tải biển quốc tế, đội tàu biển nước ta đang đảm nhận vận chuyển khoảng 7% thị phần và chủ yếu vận tải các tuyến gần như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đông Nam Á. Đội tàu container Việt Nam hoạt động chủ yếu trên các tuyến vận tải ngắn Đông Nam Á và Đông Bắc Á, một số tàu hàng rời đã vận tải hàng hóa trên các tuyến châu Âu”, báo cáo cho hay.

Về hạ tầng đường bộ, tổng chiều dài đường bộ của Việt Nam khoảng 180.000 km, trong đó có trên 154 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 24.866 km; tỉnh lộ 28.143 km; huyện lộ 57.033 km; ngoài ra đường đô thị trên 27.500 km, còn lại là đường xã trên 159.000 km.

Chất lượng đường đã được xây mới, sửa chữa và bảo dưỡng thường xuyên. Với vị trí cửa ngõ kết nối giao thương giữa ASEAN với Trung Quốc, một trong 3 cực tăng trưởng của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Quảng Ninh đang tích cực xây dựng mới, nâng cấp hàng loạt công trình giao thông trọng điểm, nhằm tạo nên cánh cửa liên kết vùng mời gọi doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Về vận tải đường thủy nội địa, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2019, có tỷ lệ đảm nhận vận chuyển hàng hóa nội địa cao hơn nhiều so với Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU (trừ Hà Lan). Ngân hàng thế giới cũng đánh giá vận tải đường thủy nội địa của Việt Nam đang hoạt động tốt với các dấu hiệu tăng trưởng và chuyển biến đáng khích lệ.

Tạo giá trị gia tăng từ các trung tâm logistics

Để đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh, nhiều trung tâm logistics đã được xây dựng và đưa vào sử dụng với chức năng cung ứng dịch vụ vận tải, hoàn tất đơn hàng, phân phối…

Cuối năm 2018, đầu năm 2019, trên toàn quốc có 6 trung tâm logistics lớn được khởi công xây dựng và đưa vào vận hành. Trong đó, miền Bắc có 2 trung tâm phân bố tại tỉnh Hưng Yên; miền Trung có 1 trung tâm tại Tp. Đà Nẵng; và miền Nam có 3 trung tâm tại các tỉnh Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu và Long An.

Tổng diện tích các trung tâm khoảng 21,15 ha, trong đó lớn nhất là trên 5 ha và nhỏ nhất là 2 ha. Các trung tâm đa số đều là đa chức năng và phục vụ đa dạng mặt hàng, chỉ có trung tâm tại Long An chuyên về logistics phục vụ ngành ô tô.

Chẳng hạn, Trung tâm Logistics Thăng Long (Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên) khánh thành tháng 10/2018. Đây là Trung tâm logistics hiện đại, tích hợp đa chức năng đầu tiên với tổng diện tích gần 3 ha gồm hệ thống kho tổng hợp, kho đông lạnh và kho mát; hệ thống khung kệ chứa hàng 8 tầng, hệ thống kiểm soát độ ẩm, phần mềm quản lý hiện đại; hệ thống kho đạt chuẩn ISO, HACCP, CT-PAT và các tiêu chuẩn khác theo quy định; có thể phân phối, lưu trữ hàng hóa tiêu dùng nhanh (FMCG), hàng thực phẩm tươi sống, hàng hóa nguyên vật liệu…

Hay Trung tâm phân phối phức hợp (ICD TC Sóng Thần và công ty ITL hợp tác kinh doanh và triển khai đầu tư) khánh thành tháng 3/2019 với tổng diện tích 50.000 m2. Trung tâm được xây dựng với thiết kế đạt tiêu chuẩn hiện đại, khu vực làm hàng thuận lợi, có hệ thống Dock Leveler, hệ thống giá kệ tiêu chuẩn, linh hoạt…

Trung tâm Logistics Phú Mỹ 3 (thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) khánh thành tháng 6/2019, với diện tích đất 2,25 ha, tổng mức đầu tư 5,4 triệu USD, gồm các hạng mục: hệ thống kho tổng hợp, kho đông lạnh và kho mát… Đặc biệt dự án có 8 điểm tiếp nhận container đáp ứng đa dạng các nhu cầu hàng hóa của doanh nghiệp…

Đáng quan tâm, các doanh nghiệp logistics đang có những thích ứng nhanh với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, có những nghiên cứu ứng dụng khoa học – công nghệ cao như Blockchain vào hoạt động logistics.

Bên cạnh các trung tâm logistics hữu hình, hiện nay, với sự tiến bộ của công nghệ và sự phát triển của thương mại điện tử, từ cuối năm 2018, tại Việt Nam bắt đầu hình thành một mô hình mới là dropshipping.

Đây là một dạng mô hình kinh doanh cho phép cửa hàng trực tuyến vận hành mà không cần đến quy trình lưu trữ tồn kho, sở hữu sản phẩm và vận chuyển sản phẩm đến khách hàng.

Nguồn: VnEconomy.

so sánh loại server

Server là gì? Bảng so sánh chi tiết các loại server điển hình

Nếu bạn đang băn khoăn không biết server là gì và có những loại server nào thì hãy theo dõi bài viết sau của chúng tôi để tìm câu trả lời. Đồng thời, bảng so sánh loại server của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn được giải pháp phù hợp với danh nghiệp mình.

Từ khi được khai sinh tại Mỹ vào năm 1960 thì server ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là doanh nghiệp. Bởi lẽ bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần có riêng một hệ thống thông tin để quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh của mình. Vậy bạn có biết server là gì và các loại server khác nhau như thế nào không? Đừng quên đọc bài viết sau đây của chúng tôi để tìm hiểu chi tiết hơn về vấn đề này nhé!

Server là gì?

Để trả lời được câu hỏi server là gì thì chúng ta cần phải hiểu server chính là máy tính chủ. Muốn máy chủ này có thể xử lý dữ liệu và liên kết với các máy tính khác bạn cần kết nối với mạng internet, cài đặt phần mềm, có IP tĩnh. Như vậy, server vượt trội hơn một máy tính bình thường chính ở năng lực lưu trữ, xử lý thông tin dữ liệu và bao gồm nhiều tính năng hơn.

so sánh loại server

Có bao nhiêu loại server?

Hiện nay có tất cả 3 loại server điển hình như VPS, Cloud Server, Dedicated Server. Chúng ta có thể tìm hiểu nhanh về các loại máy chủ thông qua bảng so sánh chi tiết sau:

Tiêu chí

VPS

Cloud Server

Dedicated Server

Khái niệm

VPS dùng để chia tách máy chủ riêng thành nhiều máy chủ ảo bằng việc sử dụng công nghệ ảo hóa. Cloud Server là việc ảo hóa những ứng dụng và tài nguyên nhằm cung cấp cho người dùng khả năng xử lý dữ liệu không giới hạn. Đây là dạng máy chủ vật lý được chạy trên phần cứng và nhiều thiết bị khác như RAM, CPU, HDD, card mạng.

Tài nguyên

Các máy chủ áo hoạt động tương tự như tính năng của máy gốc. Tuy nhiên, tài nguyên mà nó sử dụng là được chia sẻ từ máy chủ vật lý. Server này lấy tài nguyên thông qua việc hóa trên internet. Vì vậy máy chủ này có thể sử dụng các tài nguyên một cách linh động và nhanh chóng. Tài nguyên của Dedicated Server hoàn toàn độc lập, riêng biệt và không chia sẻ với bất kỳ ai khác.

Hiệu năng

Nếu sử dụng máy chủ vào giờ cao điểm thì rất dễ bị treo khiến VPS ngưng hoạt động. Vì mọi dữ liệu đều được lưu trữ trên Cloud Storage nên khi server vật lý gặp lỗi thì máy chủ ảo của bạn vẫn hoạt động bình thường. Điều này có được là nhờ có cơ chế đồng bộ dữ liệu. Hiệu suất làm việc cao, email ổn định, an toàn và người dùng có toàn quyền quản trị.

Khả năng nâng cấp

Có thể nâng cấp tài nguyên nhưng còn phụ thuộc vào server vật lý. Nâng cấp và hạ cấp vô cùng linh hoạt tùy vào nhu cầu sử dụng. Có thể nâng cấp nhưng khá phức tạp vì bạn phải mua phần cứng chuyên dụng và có nguy cơ bị downtime khi nâng cấp.

Chi Phí

Vừa phải. Tuỳ thuộc vào nhu cầu lưu trữ của người dùng. Cao hơn những loại server khác.

Quản trị

Bạn sẽ có toàn quyền quản trị server ảo này. Muốn quản trị được server này cần phải có kỹ năng và kiến thức. Người dùng có thể cài đặt, thay đổi cấu hình và quản trị máy chủ.

Vai trò của máy chủ (server)

Nhiệm vụ của máy chủ là cung cấp dữ liệu và gửi phản hồi cho các khách hàng nếu máy chủ nhận được một yêu cầu từ họ. Máy chủ này có thể hoạt động liên tục và chỉ bị tắt nếu có bảo trì hoặc sự cố xảy ra. Theo đó, người dùng sẽ nhận được những lợi ích sau khi sử dụng máy chủ:

  • Dữ liệu sẽ luôn an toàn tối đa nhờ việc sử dụng server.
  • Bạn chỉ cần nâng cấp mình máy chủ thay vì phải thực hiện trên tất cả máy con.
  • Người dùng có quyền cài đặt cấu hình và thay đổi cấu hình dễ dàng.
  • Dễ dàng phân quyền trên hệ thống.
  • Dữ liệu của người dùng sẽ được đồng bộ và sao lưu dễ dàng.
  • Chi phí vận hành của hệ thống thông tin sẽ được giảm thiểu.
  • Người dùng có thể quản trị trực tiếp hoặc từ xa đều được.

so sánh loại server

Mong rằng những thông tin trên mà chúng tôi mang đến trong bài viết đã giúp bạn trả lời được câu hỏi server là gì cũng như hiểu rõ hơn về các loại server điển hình nhất hiện nay. Đây quả là giải pháp quản trị hoàn hảo các doanh nghiệp nên sử dụng.

Nguồn: VOH Online


Hiện tại, đa phần khách hàng của Data V Tech đang sử dụng giải pháp Epicor ERP trên nền tảng điện toán đám mây (cloud). Tuy nhiên, chúng tôi cũng cung cấp các server khác và chỉ triển khai sau khi đã cung cấp đầy đủ thông tin để doanh nghiệp tự lựa chọn server phù hợp nhất.